Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

100 lời khuyên của vị Thầy thuốc 112 tuổi




1. Hãy nhớ kỹ: Ngủ là yếu tố quan trọng nhất của dưỡng sinh. Thời gian ngủ nên từ 21h đến 3h sáng. Vì thời gian này là mùa đông trong ngày, mùa đông chủ yếu là ẩn náu, mùa đông mà không ẩn náu thì mùa xuân, hạ sẽ không thể sinh trưởng, sang ngày hôm sau sẽ không có tinh thần.

2. Hết thảy các vị thuốc dùng để trị bệnh cho dù là Trung y hay là Tây y đều chỉ là trị phần ngọn, không trị tận gốc. Tại vì hết thảy bệnh tật đều bắt nguồn từ những nguyên nhân sai lầm mà sản sinh ra hậu quả sai lầm. Nguyên nhân sai lầm mà không trừ dứt, thì hậu quả sẽ không thể bỏ tận gốc. Nguồn gốc căn bản của sức khỏe là tại tâm. Hết thảy pháp từ tâm sinh ra. Tâm tịnh thân sẽ tịnh. Vì thế khi bị bệnh rồi, không được hướng ngoại cầu, phải dựa vào hệ thống phục hồi của bản thân để chữa trị bệnh của chính mình. Kỳ thực con người và động vật là giống nhau, bệnh của động vật đều là tự dựa vào bản thân mà tự hồi phục, và con người cũng có khả năng đó.

3. Quan niệm đúng đắn có tác dụng giúp người bệnh tiêu trừ bệnh tật tốt hơn nhiều so với sử dụng biệt dược đắt đỏ và phẫu thuật. Có được quan niệm đúng đắn, bạn sẽ có quyết định đúng đắn, bạn sẽ có hành vi đúng đắn, và bạn sẽ có thể phòng ngừa rất nhiều bệnh tật phát sinh.

4. Con người vốn hội tụ hết thảy trí huệ, tuyệt đối không phải là học từ trong sách vở, mà là từ tâm chân thành, tâm thanh tịnh của bản thân, từ trong [thiền] định mà sinh ra.

5. Trong giới sinh vật con người là linh thể có cấu tạo hoàn mỹ nhất, khi con người được sinh ra là đã có một cơ thể khỏe mạnh; sự điều chỉnh trạng thái khỏe mạnh của con người là dựa vào chính hệ thống điều tiết phục hồi của bản thân để hoàn thành, chứ không phải dựa vào nhân tố bên ngoài, các nhân tố bên ngoài chỉ có tác dụng phụ trợ.

6. Đại đa số hiện tượng bệnh tật của con người là hiện tượng biểu hiện khi cơ thể đang điều tiết, thanh lọc những thứ không tốt trong thân thể, là trạng thái biểu hiện ra khi cơ thể tự động điều tiết trở lại trạng thái cân bằng, vì thế chúng ta nên coi đó là hiện tượng sinh lý bình thường, chứ không nên coi đó là căn bệnh để tiêu diệt. Vì vậy khi con người bị bệnh, nhất định không nên có tâm thái oán trách và giận giữ, tâm lý phải ổn định, tâm định thì khí sẽ thuận, khí thuận thì máu sẽ thông, khi thuận huyết thông thì trăm bệnh đều sẽ tiêu tán.

7. Sức khỏe của con người không thể xa rời hai nhân tố: 1) Khí huyết đầy đủ; 2) Kinh mạch thông suốt ( bao gồm huyết quản và đường thông bài tiết những thứ cặn bã).

8. Khí huyết đầy đủ dựa vào: sự đầy đủ về thức ăn + dịch mật + bắt buộc trong khoảng thời gian (sau khi trời tối đến 1h40 sáng) có thể ngủ ngon giấc (thời gian này đại não hoàn toàn không làm việc, đều do thần kinh thực vật làm chủ đạo) + có thói quen sinh hoạt lành mạnh.

9. Kinh mạch thông suốt cần: Tâm thanh tịnh. Hết thảy thất tình lục dục đều có thể phá hoại tâm thanh tịnh, từ đó phá hoại sự lưu thông bình thường của kinh mạch.

10. Duy trì một cơ thể khỏe mạnh khỏe mạnh không chỉ cần “tăng thu” (gia tăng khí huyết), mà còn cần “tiết chi” (giảm thiểu sự hao tổn khí huyết).

11. Ăn uống quá độ không những không thể gia tăng khí huyết, mà còn trở thành những thứ cặn bã mang gánh nặng cho cơ thể, hơn nữa còn bị tiêu hao khí huyết để thanh lọc chúng đi. Lục phủ ngũ tạng là một xưởng gia công khí huyết, thức ăn là nguyên vật liệu, năng lực gia công là hữu hạn, còn thức ăn là vô hạn, cho nên số lượng thức ăn nhất thiết phải được khống chế.

12. Vận động thích hợp có thể giúp cho khí huyết lưu thông, nhưng đồng thời cũng tiêu hao đi khí huyết. Sự tuần hoàn của cơ thể tại vi mô chủ yếu dựa vào trạng thái lỏng và tĩnh mà đạt được, đây cũng là điều không thể thiếu cho một cơ thể khỏe mạnh.

13. Chất cặn bã trong cơ thể càng nhiều sẽ cần càng nhiều khí huyết để thanh lọc chúng, nhưng khi chất cặn bã nhiều lên và làm tắc huyết mạch sẽ làm giảm thiểu khí huyết, cái đó sẽ dẫn đến sự tuần hoàn ác tính, cũng chính là cơ lý khiến con người già yếu đi. Vì vậy nếu con người muốn khỏe mạnh không già yếu thì phải: 1) Giảm thiểu chất cặn bã trong cơ thể; 2) Tăng cường sự thông suốt của các đường kinh mạch; 3) Tăng cường khí huyết trong cơ thể.

14. Tin tưởng vào thuốc, tin tưởng vào số liệu kiểm tra, không bằng tin tưởng vào cảm giác của bản thân, tin tưởng rằng chính mình có đầy đủ năng lực để điều tiết. Nhưng trước hết bạn cần phải là người đắc đạo (trí huệ đã khai mở), mới có thể phân biệt được hết thảy những điều này.

15. Sự khỏe mạnh, khởi đầu từ việc điều hòa tâm tính. Vì sức khỏe của bạn, bạn hãy tu Phật. Tu Phật đạt được sự vui vẻ đó là sự hưởng thụ tối cao của đời người.

16. Đối với người có bệnh cũ mà nói, chỉ khi có khí huyết đầy đủ (một là thông qua phương pháp bổ sung khí huyết như đã giới thiệu ở đây, hai là thông qua việc đi tản bộ để đánh thông khí cơ), bệnh tình mới có thể hiển hiện ra. Vì thế người luyện công sau khi công phu đã đạt đến một trình độ nhất định đều xuất hiện một vài hiện tượng “bệnh”. Đến lúc đó phải vững vàng kiên định, tâm thần phải tĩnh lại và luyện nhiều tĩnh công hơn để gia tăng khí huyết của bản thân, để mau chóng vượt qua giai đoạn này.

17. Con người làm trái với quy luật dưỡng sinh, mặc dù không nhất định sẽ bị bệnh ngay lập tức, nhưng một khi đã hình thành thói quen, liền gia tăng nguy cơ mắc bệnh. Điều này giống với luật lệ giao thông, bạn vi phạm luật lệ giao thông, không nhất định sẽ xảy ra sự cố, nhưng tình trạng nguy hiểm là có thể thấy rất rõ ràng.

18. Tại sao con người nhất thiết phải duy trì trạng thái đói khát nhất định thì mới có lợi cho dưỡng sinh? Kỳ thực đây chính là sự vận dụng tuyệt diệu của chữ “Hư”. Đạo gia giảng, hư thì linh. Chính cái đó cùng với sự khiêm tốn khiến cho con người tiến bộ, giống như tự mãn khiến con người lạc hậu, vì thế con người nhất thiết phải thường xuyên duy trì trạng thái “hư linh”, mới có thể luôn luôn duy trì sự thanh tỉnh, duy trì sự khỏe mạnh.

19. Con người muốn khỏe mạnh, thì nhất thiết phải làm cho bên trong cơ thể có đầy đủ “khí” để “khí hóa” những thức ăn đi vào. Chỉ có như thế, thì bên trong thân thể bạn mới không tích tụ chất cặn bã, sẽ không có thức ăn thừa bị phóng thích và phân tán “hư hỏa” gây tổn hại các cơ quan nội tạng trong cơ thể bạn. Cái “hư hỏa” còn làm tổn hại “khí” của bạn. Vì thế, từ trên ý nghĩa đó có thể thấy, con người hiện đại bị bệnh, đại đa số là do ăn uống không điều độ mà thành.

20. “Nằm lâu hại khí”, “Ngồi lâu hại thịt”, “Nhàn hạ ắt khí ứ đọng”, lại dưỡng tĩnh quá độ, sẽ khiến công năng tiêu hóa của tì vị bị hạ thấp, chức năng của tạng phủ ì trệ, khí huyết lưu chuyển ứ tắc không thông thuận, lực đề kháng giảm, khả năng miễn dịch bị tổn hại, lượng đường, mỡ, axit uric, huyết áp tăng cao, dần dần lâu ngày, con người sẽ sinh bệnh, hơn nữa đa phần đều là thân thể yếu nhiều bệnh, ví dụ như cảm mạo thường xuyên, không muốn ăn, thần trí mỏi mệt, sốt ruột căng thẳng v.v…

21, Tục ngữ có câu “Linh cơ nhất động, kế thượng tâm lai” (nhạy bén hễ động, nảy ra sáng kiến). Chữ “cơ” nếu như có thể thực sự hiểu được thấu, thế thì ngộ tính của bạn được tính là đã khai mở rồi. Thầy giáo dạy người, bác sỹ trị bệnh, kỳ thực chính là đang chỉ ra cái “cơ” này của bạn, khiến cái “cơ” này của bạn khai mở. cái “cơ” này có lúc cũng gọi là “then chốt”. Đương nhiên cái “cơ” này khởi tác dụng là có điều kiện, cũng giống như khinh khí chỉ khi đạt đến nồng độ nhất định, thì gặp lửa mới có thể bùng cháy. Hãy nhớ kỹ, tác dụng của người khác đều là nhân tố bên ngoài, bản thân bạn mới thực sự là nguyên nhân bên trong.

22. Kỳ thực, rất nhiều sự phát hiện và phát minh chân chính, điều cần thiết [để sáng tạo ra chúng] không phải là cái gọi là hệ thống kiến thức trên sách vở; mà hoàn toàn ngược lại, một người chưa từng thông qua bất kể sự giáo dục nào một cách hệ thống, nhưng ngộ tính rất cao, là người có tư duy cởi mở, họ thường thực sự ngộ ra được chân tướng.

23. Con người tối kỵ nhất là loạn chữ, loạn tâm, khi đối ngoại có thể làm hỏng việc, đối nội có thể ảnh hưởng đến khí huyết, làm mất đi sự hoạt động thông thường. Phàm là khi vui buồn, tức giận, hoài nghi, lo lắng, đều là loạn, là căn nguyên của bệnh tật và đoản thọ, không chỉ khi dưỡng bệnh mới không nên loạn, mà khi bình thường cũng rất kỵ tâm loạn.

24. Giận nhiều hại gan, dâm nhiều hại thận, ăn nhiều hại ruột, ưu tư hại lá lách, phẫn nộ hại gan, sầu muộn hại tinh thần.

25, Khi đổ bệnh, đều do tâm suy yếu, ngoại tà thừa cơ xâm nhập. Mà khi tâm yếu khí nhược, mỗi khi do tâm tình hỗn loạn, thân thể không sung mãn, xuất hiện đủ loại bất an, Tham ăn, tham thắng, tham đạt, tham vui an dật, đều đủ để dẫn đến bị bệnh. Khi tham mà không được, thì dễ dẫn đến giận dữ. Hay giận dữ khiến tâm khí hỗn loạn, gan mật rối loạn, sáu mạch chấn động, ngũ tạng sôi trào, ngoài tà cùng lúc đó mà thừa cơ xâm nhập, đó là nguyên nhân của bệnh tật.

26, Người thường mong cầu trường thọ, trước tiên phải trừ bệnh. Mong cầu trừ bệnh, phải biết dụng khí. Muốn biết dụng khí, trước hết phải dưỡng sinh. Phương pháp dưỡng sinh, trước hết phải điều tâm (điều hòa tâm thái).

27, Con người do khí trong ngũ hành mà sinh, nhục thân lấy khí làm chủ. Khí bị hao tổn ắt sinh bệnh, khí ứ động không thông cũng sinh bệnh. Muốn trị bệnh này, ắt phải trị khí trước tiên.

28. Khí để thông huyết, huyết để bổ khí, tuy hai mà như một vậy. Phàm là người nhìn nhiều (sử dụng mắt nhiều) ắt tổn thương huyết, nằm nhiều tổn thương khí, ngồi nhiều tổn thương thịt, đứng nhiều tổn thương xương, đi nhiều tổn thương gân, thất tình lục dục quá độ ắt tổn thương nguyên khí, hại tới tâm thận. Như ngọn lửa cháy mạnh mẽ, bị hao tổn dương khí.

29. Trị bệnh về ngũ tạng, đầu tiên cần bổ khí. Thận là cấp bách nhất. Bổ khí nghiêm cấm động tâm, động tâm ắt nóng gan, các mạch bị chấn động, chân thủy sẽ hao tổn. Tâm bị động, sẽ dẫn khởi phong. Phong động ắt hỏa vượng, hỏa vượng ắt thủy can, thủy can ắt địa tổn.

30. Tâm định thần nhất, người được chữa bệnh cần tín tâm kiên định chuyên nhất, lưỡng tâm tương hợp, có thể trị khỏi bách bệnh, không cần dùng thần dược.

31. Bệnh của con người có thể chia thành 2 loại: một là kinh lạc cơ bản thông suốt nhưng khí không đủ. Biểu hiện là thường xuyên đau chỗ này chỗ kia, đó là vì khí của anh ta không đủ để khí hóa thức ăn, từ đó sản sinh ra tương hỏa (cũng gọi là hư hỏa), thuận theo kinh lạc di chuyển hỗn loạn trong thân thể, chỗ nào thông thì chạy qua chỗ đó, gặp phải chỗ bị tắc nghẽn, chỗ đó ắt sẽ bị đau. Những người như vậy uống một chút thuốc liền lập tức thấy công hiệu. Hai là kinh lạc không thông, khí không có chỗ nào để lưu lại trong thân thể. Biểu hiện bề ngoài không có chút dấu hiệu nào của bệnh tật, nhưng một khi đã phát bệnh thì rất nặng, hơn nữa loại người này dù uống thuốc gì thì hiệu quả cũng rất chậm, hoặc căn bản không có tác dụng gì. Chủ phát gọi là cơ. Mũi tên muốn bay ra từ cánh cung, bắt buộc phải có cái cơ này để phát động. Bất kỳ sự tình nào cũng đều như thế, đều có một cái cơ, chỉ khi nào kích động cái cơ này, thì sự tình mới phát sinh, nếu chẳng kích động được cái cơ này, các điều kiện khác dẫu có nhiều đến mấy, cũng không có cách nào dẫn khởi sự việc. Vậy rốt cuộc cơ nó là cái thứ gì, nó chính là nhân tố then chốt để phát sinh mọi sự việc. Nó là điểm, không phải là diện. Thế nhưng nếu kích động được điểm này, thì có thể kéo theo cả một diện. Cho nên bệnh cơ là nhân tố then chốt nhất trong sự phát sinh, phát triển và biến hóa của bệnh, (cũng có thể nói, bệnh cơ một khi khai mở, bệnh trạng của người đó sẽ hiển hiện ra, người đó sẽ tiến nhập vào trạng thái tuần hoàn ác tính của bệnh, đối lập với bệnh cơ là “sinh cơ”. Khi sinh cơ mở ra, người đó sẽ tiến nhập vào trạng thái thuần tốt đẹp của quá trình hồi phục. Thực tế bệnh cơ và sinh cơ là hai phương diện của cùng một thứ, là một cặp âm dương. Khi bệnh cơ mở ra, sinh cơ sẽ đóng lại; khi sinh cơ mở ra, bệnh cơ tự nhiên cũng sẽ đóng. Đây gọi là pháp biện chứng).

32. Cảnh giới cao nhất của Trung y là dưỡng sinh, cảnh giới cao nhất của dưỡng sinh là dưỡng tâm. Cho nên, đối với dưỡng sinh mà nói, hạ sỹ dưỡng thân, trung sỹ dưỡng khí, thượng sỹ dưỡng tâm. Nhìn một cá nhân cũng giống như thế, nhìn tướng không bằng nhìn khí, nhìn khí không bằng nhìn tâm.

33. Tâm thần bất an, tâm tình nóng vội, là căn nguyên dẫn đến bị bệnh và tử vong. Phương pháp giữ tâm bình an, là bí quyết số một trong việc bảo vệ sinh mệnh. Tâm có thể chủ động tất cả. Tâm định ắt khí hòa, khí hòa ắt huyết thuận, huyết thuận ắt tinh lực đủ mà thần vượng, người có tinh lực đủ thần vượng, lực đề kháng nội bộ sẽ khỏe, bệnh tật sẽ tự tiêu tan. Cho nên để trị bệnh đương nhiên cần lấy dưỡng tâm làm chủ [yếu].

34. Phong hàn âm dương mùa hạ nóng ẩm, đều có thể khiến cho con người mắc bệnh. Ngộ nhỡ lực đề kháng yếu, [bệnh tật] sẽ thừa cơ xâm nhập. Người có thân thể yếu nhược thường nhiều bệnh, chính là cái lý này. Người giàu có điều kiện bảo hộ tốt, như ăn-mặc-ở v.v… Người nghèo có lực đề kháng, nếu như khí đủ thần vượng, lỗ chân lông dày khít, không dễ bị [bệnh tật] xâm nhập v.v… Người giàu ăn nhiều đồ béo ngọt, hại dạ dày hại răng. Người nghèo hay phải chịu đói, thức ăn không phức tạp, nhờ đó mà không bị bệnh ở ruột. Người giàu thường nhàn hạ, vì thế mà nhiều phiền muộn. Người nghèo lao động nhiều, nhờ đó mà bệnh tật ít. Người giàu không tạo phúc mà chỉ hưởng phúc, chỉ toàn tiêu phúc, tiêu cạn ắt nghèo. Người nghèo có thể cần kiệm, đó chính là tạo phúc, khi quả chín sẽ giàu có. Phàm là điều kiện bảo hộ ăn-mặc-ở đầy đủ thì lực đề kháng về tinh khí thần sẽ yếu. Điều kiện bảo hộ kém, lực đề kháng ắt sẽ mạnh.

35. Mới khỏi bệnh nặng, cần tránh cắt tóc, rửa chân, tắm gội

36. Con người đều muốn cầu trường thọ vô bệnh, thân thể luôn khỏe mạnh. Muốn thân thể khỏe mạnh, đương nhiên cần điều tiết tinh khí thần. Muốn điều tiết tinh khí thần, đương nhiên cần cự tuyệt sự can nhiễu của những thứ tà. Muốn chặn đứng tà, đầu tiên cần phải dưỡng tâm. Muốn dưỡng tâm, cần phải hóa giải tam độc tham-sân-si. Muốn hóa giải tam độc này, bắt buộc phải học tâm giới. Nhưng muốn giữ được giới về ngôn từ lời nói, không nói không làm những việc vô ích, cần phải khai [trí] huệ, vứt bỏ đi những điều ngu muội, và bắt buộc phải đạt được định trước tiên. Muốn đạt được định, tất phải học tản bộ.

37. Có thể tĩnh ắt phải là người nhân [nghĩa], có nhân [nghĩa] ắt sẽ thọ, có thọ chính là hạnh phúc thực sự.

38. Tất cả những pháp môn tu thân tu tâm, chỉ có bí quyết gồm 2 từ: một là phóng hạ, hai là quay đầu. Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật; Biển khổ vô biên, quay đầu là bờ. Chỉ cần phóng hạ, quay đầu, người bệnh lập tức khỏi, người mê lập tức giác ngộ. Đây mới thực sự là người có vô lượng thọ.

39. Người mà tâm quá lao lực, tâm trí mệt mỏi thì gan sẽ vượng, tâm quá lao lực chính là tâm quá đầy, không rỗng. Tâm đầy, ắt không thể dung nạp can (mộc) sinh chi hỏa, tâm không dung nạp can sinh chi hỏa, khí trong gan ắt sẽ tích tụ lại nhiều. Gan là mộc khắc thổ, nên tì vị sẽ mắc bệnh, tiêu hóa sẽ không tốt, dinh dưỡng không đủ, tối ngủ sẽ không yên. Mộc lại khắc thủy, từ đó mà thận thủy bị thiếu, thủy không đủ ắt hỏa càng vượng, tâm thận có liên hệ tương hỗ, nên tâm khí càng yếu, bệnh phổi sẽ hình thành. Nội bộ có mối liên quan tương hỗ, một thứ động sẽ kéo theo toàn bộ đều động, một chỗ bị bệnh sẽ khiến toàn cơ thể bị bệnh. Người có cái tâm nhiễu loạn, chính là do cái tâm ngông cuồng đầy tham vọng, cho nên muốn trị bệnh cần làm an cái tâm này lại, an cái tâm này lại chính là chấm dứt vọng tưởng, để chấm dứt vọng tưởng cần có tâm sáng, tâm sáng chính là tự giác ngộ, mà để đạt được khỏe mạnh thì công hiệu nhất lại là ở tản bộ.

40. Tản bộ là phương pháp điều hòa tâm, tâm điều hòa ắt thần an (tinh thần an lạc), thần an ắt khí đủ, khí đủ ắt huyết vượng, khí huyết lưu thông, nếu có bệnh có thể trừ bệnh, nếu không đủ có thể bồi bổ, đã đủ rồi có thể gia tăng. Bệnh hiện tại có thể trừ, bệnh tương lai có thể phòng tránh. Điều tâm còn khiến cho thần minh (tinh thần minh mẫn sáng suốt), thần minh ắt cơ linh, người có tâm thanh tĩnh thật tuyệt diệu biết bao, họ có cái nhìn biện chứng, tác phong bề ngoài linh hoạt, thấu hiểu các nguyên lý một cách chính xác, liệu sự nhìn xa trông rộng, gặp loạn bất kinh, thấy cảnh đẹp không bị mê hoặc, có thể thông đạt mọi thứ, bản thân không có những ý kiến chủ quan sai lệch, đại cơ đại dụng, chính là từ đó mà ra.

41. Con người khi bị bệnh kỵ nhất là khởi tâm oán giận. Lúc này nhất định phải giữ sự bình an hòa ái, khiến cho tâm an định. Sau đó dần dần điều chỉnh, sức khỏe sẽ rất nhanh hồi phục. Tâm an thì khí mới thuận, khí thuận mới có thể trừ bệnh. Nếu không ắt tâm sẽ gấp hỏa sẽ thăng, can khí sẽ phải chịu hao tổn, làm bệnh tình càng thêm nặng. Tâm thân yên nhất, khí huyết toàn thân ấy, sẽ tự phát huy tác dụng khôi phục sức khỏe.

42. Giờ Tý (từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng) mất ngủ, thủy thận tất thiếu, tâm thận có liên hệ tương hỗ, thủy thiếu ắt hỏa vượng, rất dễ tổn hại tới [tinh] thần.

43. Trong khi ngủ nếu có tư tưởng, tâm không thể an, không được vừa nằm vừa suy nghĩ trăn trở, rất dễ hao tổn [tinh] thần.

44. Giờ Ngọ (từ 11 giờ đến 13 giờ) thuộc về tâm, giờ này có thể tản bộ 15 phút, nhắm mắt dưỡng thần, tâm khí ắt khỏe mạnh.

45. Dậy sớm trong khoảng giờ Dần từ 3 giờ đến 5 giờ, giờ này kỵ nhất buồn giận, nếu không ắt hại phổi tổn thương gan, hy vọng mọi người hết sức chú ý.

46. Tất cả sự nghiệp trong cuộc đời, đều lấy tinh thần làm căn bản, sự suy vượng cường thịnh của tinh thần, đều dựa vào sự tĩnh định bất loạn của tâm và thần, một chữ loạn, cũng đủ để làm trở ngại tới công việc.

47. Nhân sinh lấy khí huyết lưu thông làm chủ, khí ứ đọng có thể ngăn trở huyết, máu huyết bị ngăn trở có thể tích độc thành nhọt thành bệnh, thành u thành ung thư, tất cả đều là do huyết khí không thông tạo thành. Khí lấy thuận làm chủ, huyết lấy thông làm suôn sẻ. Căn nguyên bách bệnh đầu tiên đều do khí tắc, khí bị tắc bên trong, gan sẽ bị thương tổn trước tiên. Cách cứu chữa, chính là ở bí quyết hóa giải. Mà bí quyết hóa giải lại gồm có 2 loại: Một là tìm căn nguyên của nó, căn nguyên này chính là ở tâm, tâm không ắt tất cả tự động được hóa giải. Hai là dùng thuốc và châm cứu, trợ giúp hóa giải thêm bằng mát xa, sẽ giúp cho khí huyết lưu thông.

48. Dưỡng bệnh trị bệnh không thể đòi hỏi nhanh. Bởi vì nóng vội sẽ trợ giúp hỏa, hỏa vượng sẽ tổn khí, gây tác dụng ngược lại. Ngoài ra không thể tham nhiều, tham lam ắt tâm không kiên định mà nóng vội, huống hồ bách bệnh đều do tham mà ra, nên không thể lại tham mà làm cho bệnh tình càng thêm nặng là vậy.

49. Tâm thuộc tính Hỏa, Thận thuộc tính Thủy, Tâm Thận liên hệ tương hỗ. Hỏa cần giáng hạ, Thủy cần thăng lên, Thủy Hỏa tương tề, ắt khí trong thân thể sẽ bộc phát. Các bộ phận cơ thể vận động, có thể được mạnh khỏe. Điều này qua việc quan sát lưỡi có thể biết được. Lưỡi không có nước ắt không linh hoạt, vì chữ hoạt (活) là do bộ Thủy và chữ lưỡi (舌) ghép thành. Lưỡi có thể báo cáo tình trạng nặng nhẹ của các loại bệnh bên trong thân thể, từ đó mà phán đoán việc sinh tử.

50. Phương pháp tự cứu khi lâm đại bệnh: Một là không được sợ chết, tin tưởng rằng bệnh của mình, không những có thể khỏi, mà thân thể có thể trở nên đặc biệt khỏe mạnh, sống lâu trường thọ. Bởi vì bản thân cơ thể bản chất đã có năng lực này, không phải chỉ là suy nghĩ để tự an ủi. Hai là tin tưởng không cần dùng thuốc hoặc dựa vào bất kỳ thực phẩm dưỡng sinh nào, nhất định bản thân tự có khả năng trừ bệnh kéo dài tuổi thọ. Ba là bắt đầu từ hôm nay, phải quyết định không được lại động tới thân bệnh của bản thân, không được nghĩ tới bệnh của bản thân là bệnh gì, tốt hay xấu đều không được suy tính về nó, chỉ làm một người vô tư. Bốn là trong khoảng thời gian chữa trị, không được nghĩ tới công việc, cũng không được hối hận về công việc và thời gian đã mất, chuyên tâm nhất trí, nếu không sẽ lại chậm trễ có khi hỏng việc. 51. Phương pháp dưỡng tĩnh: an tọa (nằm) trên giường, đặt thân tâm nhất tề hạ xuống, toàn thân như hòa tan, không được phép dùng một chút khí lực nào, như thể không có cái thân thể này vậy, hô hấp tùy theo tự nhiên, tâm cũng không được phép dùng lực, một niệm khởi lên cũng là đang dùng lực. Để tâm đặt xuống tận dưới bàn chân, như thế có thể dẫn hỏa đi xuống, dẫn thủy đi lên, tự nhiên toàn thân khí huyết sẽ thông thuận.

52. Yếu quyết tu luyện: tĩnh lặng theo dõi, tránh dùng lực Yêu cầu cụ thể: Không cho phép bất cứ bộ phận nào dùng khí lực dù chỉ một chút, bao gồm ý niệm, hô hấp, tứ chi, cần làm được: mắt không nhìn, tai không nghe, mũi không ngửi, lưỡi không nếm, miệng không nạp (ăn), tâm không nghĩ. Đó là điều kiện duy nhất. Nếu có bất cứ hành vi tư tưởng, nghe, cảm giác nào đều là đang dùng khí lực, thậm chí cử động ngón tay cũng là dùng khí lực. Thở mạnh cũng lại là dùng khí lực. Không bao lâu hơi thở sẽ tự nhiên trở nên an hòa, như thể không phải ra vào từ lỗ mũi, mà như thể 8 vạn 4 ngàn lỗ chân lông trên toàn cơ thể đều có động tác, hoặc nở ra hoặc khép lại, lúc này sẽ là trạng thái vô ngã vô thân vô khí vô tâm, tự nhiên tâm sẽ quy hồi vị trí bản nguyên. Cái gọi là dẫn hỏa quy nguyên, hay còn gọi là thủy hỏa ký tế, chính là bí quyết chung để điều trị bách bệnh.

53. Trường hợp chăm chút dưỡng sinh nhưng lại chết sớm, chiếm đến ba phần mười, vậy rốt cuộc là thế nào? Đó là vì quá yêu quý thân thể của mình. Vì cái thân xác này, sợ phải chịu xấu hổ, sợ bị nuông chiều, sợ chịu thiệt, sợ bị mắc lừa, lo trước lo sau, nhìn ngang nhìn dọc, lo lắng hốt hoảng, tính toán thiệt hơn … như thế, trái tim đó của anh ta cả ngày giống như quả hạch đào bị chó gặm đi gặm lại, làm sao mà có thể không chết chứ. Càng sợ chết, càng chết nhanh. Nếu bạn muốn dưỡng sinh, thì phải không sợ chết. Chỉ có không sợ chết, mới có thể cách xa cái chết. Người thực sự không sợ chết, đi đường sẽ không gặp phải hổ, nếu có gặp phải, hổ cũng không ăn thịt anh ta. Đánh nhau không gặp phải đao súng, nếu có gặp, đao súng cũng sẽ không làm anh ta bị thương. Tại sao? Bởi vì anh ta không coi cái chết là gì, không sợ chết, cái chết cũng không có cách nào. Dưỡng sinh, mặc dù không phải là mục đích của việc tu đạo, nhưng người tu đạo đã nhìn thấu được sinh tử, cho nên sẽ không sợ chết nữa, vì đã không sợ chết nữa, nên cái chết cũng không còn là vấn đề. Quan sinh tử đã qua rồi, còn gì mà không thể vượt qua nữa? Vì thế, người tu đạo có thể trường sinh. Không nghĩ đến trường sinh, trái lại lại có thể trường sinh. Tâm luôn nghĩ muốn trường sinh, trái lại càng nhanh chết. Trường sinh không phải là mục đích của tu đạo, nó chỉ là hiện tượng đi kèm của tu đạo.

54. Người có bệnh, lại không cho rằng mình có bệnh, đây chính là bệnh lớn nhất của con người. Người mà biết bản thân mình có bệnh liệu có được bao nhiêu?

55. Người mà ngày nào nửa đêm canh ba cũng vẫn còn ở trên mạng, bản thân đó chính là điều đại kỵ của dưỡng sinh. Bao gồm cả một số người gọi là danh y cũng thế. Ngoài ra, tâm của họ còn luôn tính toán so đo, thử hỏi người như vậy thì đến bản thân còn không giữ nổi, thì làm sao chữa bệnh cho người khác đây?

56. Đừng tham những cái lợi nhỏ nhặt, cái lợi lớn cũng đừng tham. Một từ tham nhưng bao hàm cả họa. Tham lam, suy tính thiệt hơn sẽ khiến cho người ta mắc các bệnh về tim. Tham lam, suy hơn tính thiệt là biểu hiện của việc không hiểu Đạo Pháp về cái lý tự nhiên.

57. Đừng có ngày nào cũng nghĩ xem ăn cái gì để bổ âm, ăn cái gì để tráng dương. Hãy nhớ kỹ, vận động là có thể sinh dương; tản bộ thì có thể sinh âm. Âm là mẹ của dương, dương là được vận dụng bởi âm.

58. Người ta khi khí không đầy đủ, không được mù quáng mà bổ khí, nếu không ắt sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe. Nếu như vì huyết không đủ, thì cần phải bổ huyết trước, bởi vì huyết là mẹ của khí, nếu không ắt sẽ thành dụng cụ thiêu đốt, làm cho nội tạng bị đốt cháy; nếu là vì kinh lạc không thông, thì có thể gia tăng khí huyết, đồng thời bồi bổ khí huyết. Như vậy mới có thể đạt được tác dụng của bổ khí.

59. Hoàn cảnh đối với người dưỡng sinh có tính trọng yếu là điều vô cùng rõ ràng. Đây chính là đạo lý mà vì sao người ở những vùng không khí trong lành nơi rừng sâu núi thẳm, có thể dưỡng khỏi những bệnh tật khó chữa. Bởi vì những vật chất tinh vi nơi rừng sâu núi thẳm (ion điện âm) sẽ thông qua trạng thái thả lỏng của con người trong khi hít thở sâu mà hấp thụ vào trong nội bộ nhân thể, từ đó mà tưới đều lục phủ ngũ tạng, khiến cho người ta có được sức sống mới. Ngoài ra còn có một điểm mà người thường không hề biết, đó chính là con người không chỉ hô hấp thông qua lỗ mũi, mà mỗi một lỗ chân lông trên thân thể con người đều có thể hô hấp, hơn nữa những gì chúng hấp thụ chính là tinh hoa của trời đất.

60. Con người trong trạng thái thả lỏng và tĩnh, hít thở sâu và chậm có thể cảm nhận được sự giao hoán những tinh khí của con người với trời đất: Trong khi hấp thụ khí, thực tế ngoại trừ lúc phổi đang hít khí vào, toàn bộ thân thể đều đang bài trừ khí bên trong thân thể ra ngoài, và đem khí của người phóng thích ra ngoài trời đất; còn khi phổi đang thải khí ra, thực tế con người đang hấp thụ tinh khí của đất trời thông qua các lỗ chân lông. Điều này đại khái chính là điều mà Lão Tử đã nói “Thiên địa chi gian, kỳ do thác dược hồ”.

61. Khi vận động có hai điểm cấm kỵ: một là không được vận động khi khí huyết không đủ; hai là không được vận động trong môi trường bị ô nhiễm.

62. Vận động có hai tác dụng: một là gia tăng tốc độ vận hành của khí huyết, thúc tiến quá trình bài xuất chất cặn bã trong thân thể ra ngoài; hai là khai mở lỗ chân lông trên da, để hấp thụ tinh khí của trời đất.

63. Ngộ tính là gì? Trí huệ là gì? Ngộ tính và trí huệ chính là sử dụng những phương pháp đơn giản nhất để xử lý, xem xét tất cả các sự vật. Nhưng có một số người thường hay gây nhiễu loạn luôn nhìn những sự việc đơn gian thành phức tạp, làm thành phức tạp. Phức tạp và đơn giản kỳ thực là một thứ, là hai mặt của một thứ. Điều người thông minh nhìn thấy là mặt đơn giản, điều người ngu xuẩn nhìn thấy là mặt phức tạp.

64. Con người không trị được bệnh, thì cần phải nhờ Thần trị; Thần trị không khỏi bệnh thì phải nhờ Phật trị. Phật giảng điều gì? Điều Phật giảng là tâm.

65. Bệnh viện và tòa án ngày nay đều như nhau, có động tới hay không cũng đều đưa cho bệnh nhân giấy thông báo phán quyết tử hình. Mà trong nhiều tình huống, phán tử hình cho nhiều người đáng lẽ không bị tử hình. Tại sao lại nói như thế? Lấy “ung thư” làm ví dụ, trong tâm con người ngày nay ung thư đồng nghĩa với tử hình. Kỳ thực nếu như chúng ta không gọi nó là ung thư, thế thì đối với bệnh nhân mà nói, chính là mang cho bệnh nhân một tia hi vọng, bằng như lưu lại cho họ một cơ hội sống. Cho nên tôi mới nói, bệnh nhân ung thư ngày nay có đến hơn một nửa là bị dọa chết, là bị áp lực tinh thần dày vò đến chết. Đồng thời cũng chính là bị bệnh viện hành hạ đến chết. Bởi vì một khi bạn bị chẩn đoán thành bệnh ung thư, họ sẽ có thể không kiêng nể gì cả mà tùy ý xử lý bạn, điều trị mà không chết coi như mệnh của bạn lớn, điều trị mà chết, thì là do bệnh của bạn là ung thư. Sự thực mà nói, không có bệnh gì là trị không khỏi, chỉ là xem cái tâm của bạn có thể buông xuống được không, tất cả bệnh tật đều từ tâm sinh, tất cả bệnh tật cũng đều từ tâm mà trị. Chỉ cần bạn vẫn còn sống, bạn vẫn còn cơ hội. Tìm thấy được cơ hội này, áp dụng nó đối với việc trị bệnh ung thư, bạn sẽ khỏe mạnh trở lại.

66. Hiện nay ngoài xã hội đều nói về cạnh tranh, việc này đã khiến cho mọi trật tự bị đảo loạn, khiến cho con người bị dẫn dụ vào ma đạo. Cạnh tranh là gì? Cạnh tranh chính là khiến người ta bị cuốn vào cảnh giới tham dục vô hạn. Một mặt bạn đề xướng cạnh tranh, một mặt bạn nói về những gì là xây dựng và ổn định xã hội, đây chẳng phải là điển hình của việc tự lừa mình dối người sao.

67. Căn cứ vào nguyên lý âm dương tương hỗ mà xét, thanh khiết và vẩn đục là hấp dẫn lẫn nhau. Cho nên con người ăn vào những thứ tươi mới tất sẽ có tác dụng tương hợp với những vật chất bẩn trong cơ thể, từ đó mà bài trừ những thứ ấy ra ngoài.

68. Những vật chất vẩn đục sinh ra là do ăn vào những thực phẩm không sạch, nhưng chủ yếu là do ăn quá nhiều, cơ thể không thể tiêu hóa được khiến đống thức ăn thừa đó biến thành cặn bã.

69. Tùy kỳ tự nhiên là cảnh giới cao nhất của dưỡng sinh. Một người khi sinh ra, vận mệnh của anh ta căn bản là đã có định số rồi. Anh ta nên làm gì, không nên làm gì, nên ăn gì, không nên ăn gì, nếu như có thể thuận theo vận số của bản thân mà làm, thì sẽ có thể được bình an vô sự. Người có ngộ tính sẽ phát hiện ra được, sẽ biết được vận mệnh của bản thân, biết được họ nên làm cái gì, không nên làm cái gì. Cho nên dưỡng sinh tuyệt đối không đơn giản là bắt trước, bảo sao làm vậy. Không cần hâm mộ người khác, cần tìm ra ngộ tính của bản thân từ trong tâm của chính mình. Vậy con người làm thế nào mới có thể phát hiện bản thân đã đạt được tùy kỳ tự nhiên hay chưa? Kỳ thực điều này quá dễ, khi bạn có bệnh, bạn cảm thấy không thoải mái, bạn thấy không được tự tại, chứng tỏ bạn đã đi ngược lại tự nhiên rồi. Cần làm được thuận theo tự nhiên của đại tự nhiên bên ngoài, ngoài ra còn phải thuận theo lẽ tự nhiên của vận mệnh bên trong bản thân, hai điều này đều không thể thiếu được.

70. Rất nhiều người khi nghe thấy bác sỹ tuyên bố bản thân bị mắc trọng bệnh, thường đều sẽ biểu hiện ra dáng vẻ không vui, hi vọng có thể dùng phương pháp cắt, gọt, độc, giết v.v… để loại bỏ căn bệnh đó, tuy nhiên, bệnh tật thực sự không phải sản sinh từ đó? Trên thế gian tuyệt đối không có hiện tượng “đang khỏe mạnh đột nhiên sinh bệnh”. Lấy cảm mạo làm ví dụ, nếu thực sự yêu cầu bệnh nhân tự làm kiểm điểm, thông thường bệnh nhân sẽ cho biết, bản thân trước khi cảm mạo, đã trải qua vài lần thức thâu đêm; có người sẽ nói rằng bản thân bị trúng gió lạnh, bị dính mưa ướt; có một số người lại nói do áp lực công việc quá lớn, thường xuyên đau đầu, mất ngủ. Kỳ thực, những hiện tượng như thế, đều có thể là nhân tố dẫn tới cảm mạo, nói thêm nữa, nếu như độ mẫn cảm và tính cảnh giác của con người đầy đủ, tự nhiên sẽ có thể đạt được mục đích “đề phòng tai họa”.

71. Khoa học chân chính là gì? Chính là nhân duyên quả báo. Không tin nhân quả, thì không phải là khoa học chân chính.

72. Cái tâm không sợ chịu thiệt, không sợ bị người khác chiếm lấy lợi ích. Hay nói một cách khác là bạn có thể chịu thiệt, người khác muốn lấy mạng của bạn mà bạn vẫn có thể buông xả, bạn đều có thể cho họ hết, hơn nữa tự bản thân trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều không ham lợi ích, khi đó cái tâm của bạn có thể sẽ không định (tĩnh lặng) sao? Con người trên thế gian có ai làm được? Nhưng Phật là có thể làm được.

73. Sau khi con người nắm vững được phương pháp về sức khỏe, họ sẽ thực sự hưởng thụ được một trạng thái tự tin khi không còn lo sợ mắc bệnh. Cái loại cảm giác này thật tuyệt, hy vọng rằng bạn và chúng tôi đều có thể có được trạng thái tự tin đó.

74. Khi học vấn thâm sâu ý chí sẽ bình lặng, tâm định ắt khí sẽ yên. Cho nên đối với một người đắc Đạo mà nói, quan sát một người, không phải là một việc quá khó khăn, đây cũng là kết quả của tướng tùy tâm chuyển.

75. Danh là điều khó phá vỡ nhất trong ngũ dục, sắc đứng thứ hai, tiếp theo là tài, sau đó là ăn và ngủ. Tâm về danh không bỏ, thì không có cách nào nhập Đạo.

76. Khởi nguồn của bách bệnh, đều bắt nguồn từ việc bị gió độc thừa cơ xâm nhập. Nếu như thân thể khí suy nhược, khả năng phòng vệ kém, hoặc ưu tư sợ hãi, đắm chìm trong tửu sắc, làm việc quá lao lực, chân khí sẽ bị hao tổn từ đó tà ngoại thừa cơ tấn công.

77. Trị bệnh về ngũ tạng, đầu tiên cần phải bổ khí. Khi bổ khí cấm động tâm, tâm động ắt gan vượng, gây chấn động mạch, chân thủy sẽ hao tổn. Tâm là quạt, sẽ dẫn khởi gió. gió động ắt hỏa vượng, hoặc vượng ắt thủy can, thủy can ắt địa tổn.

78. Đối với bác sỹ mà nói, tâm định thần nhất, người được chữa bệnh có tín tâm kiên định, lưỡng tâm tương hợp, có thể trị được bách bệnh.

79. Qua trường hợp Hitler đi vòng qua phòng tuyến kiên cố Maginot của quân đội liên minh, tôi ngộ ra rằng: để đối phó với một số bệnh cứng đầu, không thể tấn công cứng nhắc từ chính diện, cần đột phá từ những phương diện khác có liên quan. Chẳng hạn như việc điều trị các bệnh cứng đầu như bệnh thận, bệnh gan, có thể đạt được hiệu quả thông qua việc điều chỉnh phổi và lá lách v.v…

80. Trung Dung, là nguyên tắc căn bản của dưỡng sinh. Khí huyết trong cơ thể người cũng là một cặp âm dương, huyết là âm là thể, khí là dương là dụng. huyết là mẹ của khí, khí là chủ tướng của huyết. Khí không đủ, dễ mắc các bệnh do ứ trệ tạo nên như mọc u, tắc động mạch; khí quá độ; dễ mắc các bệnh về xuất huyết não. Cho nên, chỉ khi khí huyết cân bằng, con người mới có thể khỏe mạnh.

81. Con người chỉ khi ngộ ra được cái gì là “tự nhiên”, mới được coi là đắc đạo. Biết được tự nhiên, sau đó mới có thể tùy kỳ tự nhiên. người này chính là Thần nhân. Hiểu được âm dương, hiểu được tùy kỳ tự nhiên, bạn nhất định sẽ trở thành lương y đại đức.

82. Cái gì là tự nhiên, tự nhiên chính là bất kỳ sự vật gì đều có hai mặt âm dương, bất kỳ sự vật nào đều cần trải qua quá trình Sinh (sinh sản), Trưởng (tăng trưởng), Thu (thu hoạch), Tàng (tàng trữ). Bạn thuận theo quá trình này, sử dụng nguyên lý tương sinh tương khắc của ngũ hành để điều tiết sự cân bằng của bệnh nhân, làm sao mà không trị được khỏi bệnh chứ.

83. Đơn giản và phức tạp là một cặp âm dương, sự tình càng phức tạp, thường thường sử dụng biện pháp đơn giản nhất lại có thể giải quyết. Cũng đồng dạng như thế, một vấn đề nhìn tưởng chừng đơn giản, để giải quyết nó bạn sẽ thấy thật không dễ dàng, bạn phải phó xuất nỗ lực rất lớn cũng không nhất định giải quyết được. Điều này giống cương nhu vậy, cực nhu có thể khắc chế cương, cực cương thì nhu cũng không thể chống. Cho nên, chúng ta khi giải quyết vấn đề cần có lối suy nghĩ rằng, gặp phải vấn đề phức tạp nên tìm biện pháp đơn giản để giải quyết, gặp phải vấn đề đơn giản đừng vội coi thường nó, cần phải chú trọng đủ mức tới nó.

84. Chúng ta hãy thử xem trong thế giới này có phải là có tồn tại đạo lý đó hay không. Liệu có được mấy người có thể tùy kỳ tự nhiên trong việc ăn ngủ, có được mấy người có thể tuân thủ tự nhiên. Bạn tuân thủ không được, vì sao? Bởi vì nó quá đơn giản, chính vì quá đơn giản, cho nên bạn không dễ mà có thể tuân thủ. Đây gọi là phép biện chứng.

85. Cái gì là cân bằng? Cân bằng chính là sự tồn tại dựa vào nhau và khắc chế nhau của âm dương, phương diện nào quá độ hoặc quá kém cũng sẽ khiến mất đi sự cân bằng. Tổn thương nguyên khí là gì, mất đi sự cân bằng chính là tổn thương nguyên khí. Thường xuyên ở trong trạng thái cân bằng, nguyên khí ắt sẽ được bảo trì tốt, con người sẽ lão hóa chậm.

86. Đạo về âm dương chính là sự tương hỗ dựa vào nhau và chuyển hóa lẫn nhau của hai phương diện mâu thuẫn đối lập. Bất kỳ một cặp mâu thuẫn nào, nếu một bên thoát ly khỏi bên kia, không còn chịu sự ức chế của đối phương nữa, thì thời điểm mà nó bị diệt vong cũng không còn xa. Bạn thử nhìn xem, xã hội ngày nay, các lãnh đạo đều không thích bị khống chế, thích được độc lập tự do, thích làm theo ý mình, tham ô hối lộ, thế thì kết quả là gì đều có thể tưởng tượng ra được. Âm và dương chính là như thế. Trong đại tự nhiên, khi một sự vật xuất hiện, đều có mang theo nhân tố do nó sinh ra, nhưng đồng thời cũng sẽ xuất hiện một nhân tố để khắc chế nó. Đó chính là đạo lý ngũ hành tương sinh tương khắc, cũng là đạo lý dựa vào nhau, ức chế lẫn nhau của âm dương. Cho nên đạo lý dưỡng sinh cũng vậy, khi bạn bị bệnh, luôn tồn tại một nhân tố khiến bạn sinh bệnh, đồng thời cũng sẽ có một nhân tố ức chế nó, có thể giúp bạn tiêu trừ nhân tố gây bệnh. Tương tự như thế trong thế giới tự nhiên, tại chỗ có tồn tại rắn độc, chắc chắn khu vực xung quanh sẽ có tồn tại loại thảo dược có thể giải độc.

87. Cái gì gọi là đắc ý vong hình (vì đắc ý mà quên đi dáng vẻ vốn có của mình) ? Anh ta đã mất đi sự khống chế, mất đi sự ức chế của mặt âm, cho nên kết quả nhất định là …. cũng như thế con người không nên để tinh thần sa sút, vì như thế sẽ mất đi sự ức chế của mặt dương đối với họ.

88. Làm thế nào để có đại trí huệ? Nếu không có tấm lòng quảng đại, ở đâu mà có đại trí huệ chứ.

89. Tục ngữ có nói, sống đến già, học đến già. Học tập cũng cần phải hợp thời, đến tuổi nào thì học những điều mà ta nên học vào giai đoạn ấy, nếu không ắt sẽ không hợp thời, không tùy kỳ tự nhiên. Nhưng hãy xem sự giáo dục của chúng ta ngày nay, từ nhà trẻ đến đại học, có bao nhiêu điều là đáng để học. Lúc còn nhỏ nên học cái gì. nên học đạo đức, học hiếu đạo, tiếp theo là học nhận biết chữ, dấu chấm câu, tiếp theo là học cách làm việc. Đến tuổi thanh niên thì học cách làm sao để sống tốt giáo dục con cái tốt, làm cho gia đình hạnh phúc. Đến tuổi trung niên, học tập đạo dưỡng sinh. Đến những năm tuổi già, học cách buông bỏ tâm thái, an hưởng tuổi già. Ngành giáo dục cần học gì, chính là học những thứ này.

90. Tình chí (7 loại tình cảm của con người) đối với bệnh tật có mối tương quan mật thiết với nhau, có một số bệnh tật là do tình chí gây ra, bạn dùng thuốc trị liệu, trị mãi mà vẫn không khỏi, đối với loại bệnh tật này, muốn cởi chuông thì phải tìm người buộc chuông. Ngũ chí có thể gây bệnh, ngũ chí cũng có thể giải trừ bệnh.

91. Dưỡng sinh có một điều rất trọng yếu, đó là không được sợ chết. Người sợ chết dương khí không đủ, dương khí không đủ, tử thần sẽ tìm ra được bạn. Đây chính là điều mà đạo gia giảng, người tu luyện cần có một khí chất anh hùng. Nhân, trí, dũng không thể thiếu một trong ba.

92. Khi nào bạn lấy học vấn lý giải được nó là vô cùng đơn giản và bình dị, lúc này bạn mới là chân chính đạt được một trong tam muội. Nếu như bạn vẫn còn cảm thấy nó là bác đại tinh thâm, thâm sâu không thể đo lường, chứng tỏ bạn vẫn chưa nắm được tinh túy của nó, mới chỉ nhìn thấy phần tươi tốt của lá cây, mà vẫn chưa nhìn thấy được căn bản của nó, lúc này bạn mới chỉ ở giai đoạn “có”, vẫn chưa đặt được cảnh giới của “vô”. Tất cả đều không thoát được âm dương, vạn sự vạn vật đều không thoát khỏi được âm dương. Căn bản của điều này chính là âm dương. Biết được một điều này, mọi sự đều có thể hoàn thành.

93. Tập trung tinh thần định khí, quên đi cả bản thân và mọi sự vật. Đó là cốt lõi của dưỡng sinh

94. Chủ minh ắt hạ an, theo đó để dưỡng sinh ắt sẽ thọ, tình thế sống chết cũng không nguy hiểm, thiên hạ ắt sẽ hưng thịnh. Chủ bất minh ắt thập nhị quan gặp nguy, khiến cho đạo tắc nghẽn không thông, thực thể liền bị thương tổn, theo đó để dưỡng sinh ắt sẽ mang họa, người trong thiên hạ, và gia tộc này sẽ gặp đại nguy, nghiêm cấm nghiêm cấm !

95. Ứng dụng của ngũ hành tương sinh tương khắc: Phàm là do ngũ tạng hoạt động thái quá sẽ gây ra bệnh tật, đều có thể dùng phương pháp ngũ hành tương sinh tương khắc để trị. Giống như thế, phàm là vì ngũ hành không đủ dẫn khởi bệnh tật thì đều có thể dùng phương pháp ngũ hành tương sinh tương khắc để giải quyết. Đây là nguyên tắc căn bản của phép vận dụng ngũ hành.

96. Người hiện đại thường chú trọng vào phương diện truy cầu đề cao chất lượng cuộc sống, hậu quả của loại truy cầu này rất đáng sợ. Cần biết, dục vọng của con người đối với vật chất là không có giới hạn. Khi mà loại dục vọng này không được khống chế, cũng tương đương sự thống khổ không có giới hạn của chúng ta. Kỳ thực, vật chất có thể đem lại sự hưởng thụ, thì tinh thần cũng có thể; thuốc có thể trị bệnh, thì phương pháp trị liệu tâm lý cũng có thể làm được. Cho nên, chúng ta dùng cả cuộc đời để truy cầu tài phú, thì chi bằng hãy dùng quãng thời gian ấy để bồi dưỡng một loại tâm thái tốt, khiến cho tinh thần của chúng ta đạt tới một loại cảnh giới siêu phàm.

97. Sau khi con người nắm vững được phương pháp về sức khỏe, họ sẽ thực sự hưởng thụ được một trạng thái tự tin khi không còn lo sợ mắc bệnh. Cái loại cảm giác này thật tuyệt, hy vọng rằng bạn và chúng tôi đều có thể có được trạng thái tự tin đó.

98. Thân thể của chúng ta là một cơ thể có đầy đủ trí tuệ và chức năng, thân thể của chúng ta có rất nhiều “lính gác” như: răng, ruột thừa, a-mi-đan v.v… Khi thân thể chúng ta có hiện tượng dị thường (thông thường là “thăng hỏa”), những lính canh này sẽ lập tức phản ứng thông báo tới đại não. Người thông minh lúc này nên điều tiết lại tâm thái, kiểm điểm bản thân, để thân thể cân bằng hài hòa trở lại. Vậy mà hiện nay Tây y đều làm những việc gì? Bạn bị đau đúng không, tôi sẽ cắt bỏ bộ phận bị đau của bạn. Hiện nay thậm chí còn có người, phát minh ra một loại máy, bạn bị viêm mũi dị ứng sẽ phải hắt xì hơi đúng không? Vậy tôi sẽ đốt cháy khu vực thần kinh mẫn cảm trong mũi của bạn, như thế sau này mũi bạn có bị kích thích gì đi nữa cũng sẽ không bị hắt hơi. Hậu quả của những việc làm như thế của Tây y chính là sau này nếu chúng ta lại tiếp tục bị bệnh, thì bộ phận bị cắt bỏ chính là lục phủ ngũ tạng của chúng ta.

99. Hãy nhớ kỹ, khi chúng ta ngẫu nhiên bị đau bụng, hắt hơi, ho, phát sốt v.v… đều là hệ thống phục hồi thân thể của chúng ta đang hoạt động, đừng có quá lạm dụng thuốc khi vừa mới xuất hiện bệnh trạng, nếu không chính thuốc ấy sẽ phá hoại chức năng phục hồi thân thể của bạn, khi mà chức năng phục hồi của bạn bị suy yếu hoặc mất đi, thế thì bạn đã giao vận mệnh của mình cho thuốc rồi. Nên nhớ rằng, nếu bệnh trạng không nghiêm trọng, biện pháp tốt nhất là dưỡng tĩnh, an tâm tĩnh khí có thể khiến hệ thống sữa chữa của bản thân hoàn thành được công tác phục hồi. Cho nên, mỗi một người trong chúng ta cần thận trọng khi dùng thuốc, để cho hệ thống hồi phục chức năng của cơ thể được khôi phục, đây mới chính là đạo chân chính trong việc giữ gìn sức khỏe.

100. Rất nhiều trọng bệnh hoặc bệnh hiểm nghèo, đều chỉ bắt nguồn từ một lý do: Hận. Khi mà cái hận này biết mất, bệnh ắt cũng theo đó mà tiêu trừ. Trong thế gian này điều khó giải quyết nhất chính là hận thù kéo dài, chính vì không hóa giải được cái hận đó, mới có những bệnh không thể trị khỏi được.

(Hết)

Nguồn: NTDTV
Biên tập: Tuệ Minh
https://daikynguyenvn.com/suc-khoe/100-loi-khuyen-luc-lam-chung-cua-vi-thay-thuoc-trung-y-112-tuoi-phan-1.html

Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2014

MỘT BÀI VIẾT HAY VỀ "BỆNH UNG THƯ"



MỘT BÀI VIẾT HAY VỀ BỆNH UNG THƯ


Bài viết dưới đây sẽ mang cho chúng ta khái niệm tổng quát về bệnh ung thư. Hy vọng có thể giúp cho bản thân, bạn bè hay người thân của mình ..

BỆNH UNG THƯ
1/ Mỗi người chúng ta, trong cơ thể đều có tế bào ung thư. Các thí nghiệm thông thường tế bào này không phát hiện được, trừ khi nó phát triển hàng vài tỷ tế bào ung thư. Khi Bác sĩ nói với bệnh nhân ung thư rằng không còn tế bào ung thư trong người nữa sau khi chữa trị, vậy có nghĩa là các phương pháp và dụng cụ hiện tại không có khả năng tìm đến các tế bào còn sống sót vì qua ít.

2/ Tế bào ung thư thường xảy ra từ 6 đến 10 lần trong đời sống con người.

3/ Khi hệ thống miễn nhiễm (immune systems) của con người mạnh thì tế bào ung thư bị tiêu diệt hoặc không sinh sản được tạo thành khối u (tumor).

4/ Khi một người vướng phải bệnh ung thư, có nghĩa là người đó thiếu sự dinh dưỡng đúng mức: vì di truyền, môi trường, thức ăn, thói quen của đời sống.

5/ Để vượt qua tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng lành mạnh, ta phải kiêng cử và tiếp liệu thêm những cần thiết để làm tốt hệ thống miễn nhiễm.

6/ Chemotherapy (chữa trị bằng hóa chất) là làm đầu độc những tế bào ung thư đang phát triển mạnh nhưng nó cũng tiêu diệt các tế bào khỏe của cơ thể trong tủy xương và tế bào tiêu hóa trong ruột. Nó cũng làm hư hại các cơ quan khác như lá lách (liver) thận (kidneys) tim (heart) phổi (lungs).

7/ Radiation (chữa trị bằng phóng xạ) để tiêu diệt tế bào ung thư, nó cũng đốt cháy và để lại vết sẹo làm hư lại tế bào khỏe và các cơ quan khác trong cơ thể.

8/ Lần đầu tiên chữa trị bằng phương pháp Chemotheraphy hay Radiation thường thì nó làm giảm đi cục u nhọt. Tuy nhiên nếu tiếp tục chữa trị lâu dài nó không có kết quả tiêu diệt hẳn cục u nhọt

9/ Khi cơ thể con người chất chứa nhiều độc tố từ sự chữa trị bằng phương pháp Chemotherapy và Radiation thì hệ miễn nhiễm trong cơ thể sẽ lâm vào tình trạng nguy hiểm hay bị tiêu diệt, từ đấy bệnh nhân không chịu nổi với nhiều biến chứng phức tạp.

10/ Chemotherapy va Radiation có thể gây cho tế bào ung thư biến dạng và trở nên chai lì khó tiêu diệt. Giải phẫu cũng gây cho tế bào ung thư phát triển thêm nhiều mặt khác.

11/ Cách chữa trị tế bào ung thư có kết quả tốt nhất là bỏ đói các tế bào ung thư, nghĩa là không nuôi nó với những thức ăn để nó có thể sinh sản được nữa.

12/ Thịt khó tiêu hóa, phải đòi hỏi nhiều con men sống để tiêu hóa. Thịt chưa tiêu hóa giữ trong ruột trở thành thói rửa dẫn đến tạo thành nhiều độc tố.

13/ Tế bào ung thư được che chở bởi một màng protein rất dai. Cố gắng tránh ăn thịt hoặc một ít mà thôi để con men sống có nhiều thêm tập trung phá hủy màng protein dai dẻo bao bọc tế bào ung thư, khai thông cho tế bào xung kích (killer cell) của cơ thể lọt vào tiêu diệt tế bào ung thư.

14/ Một vài chất phụ thêm sức cho hệ thống miễn nhiễm (IP 6, FLOR, ESSIAC, ANTIOXIDANT, VITAMINS, MINERALS, ect...) để giúp tế bào xung kích (killer cell) cơ bản của cơ thể tiêu diệt tế bào ung thư.

15/ Ung thư là con bệnh của trí tuệ (mind), cơ thể (body), và tinh thần (spirit). Một tinh thần, một ý chí hăng say tích cực vui vẻ giúp cho chiến sĩ ung thư (cancer warrior) sống còn. Sự giận dữ, chấp nê khó khăn, cay đắng, buồn rầu đưa cơ thể vào sự căng thẳng tạo môi trường acid. Hãy học tinh thần yêu thương tha thứ, xả bỏ, yêu đời.

16/ Tế bào ung thư không thể phát triển được trong môi trường nhiều oxy. Tập thể dục hằng ngày, hít thật sâu lấy oxy vào khắp các tế bào trong cơ thể. Oxygene là phương pháp trị liệu dùng tiêu diệt tế bào ung thư.

Lưu ý :
Dr. Edward Fujimoto thuộc bệnh viện Johns Hopkins đã nói trên truyền hình rằng hóa chất Dioxins gây bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư vú. Dioxins là chất độc cao độ đối với tế bào cơ thể. Bác sĩ khuyên chúng ta không nên để đồ ăn trong hộp bằng nhựa hoặc gói bằng plastic và nấu trong Microwave. Hỗn hợp béo và sức nóng cao độ của Microwave làm chất plastic thải ra độc tố Dioxins vào thức ăn, cuối cùng vào tế bào chúng ta.

Không dùng bình nhựa chứa nước uống để trong Freezer, dioxins sẽ thải vào nước từ bình nhựa. Bác sĩ khuyên nên dùng ceramic

Tế bào ung thư được nuôi dưỡng bởi:

a/ Đường nuôi tế bào ung thư. Bỏ thức ăn có đường là giảm đi thức ăn quan trọng cung cấp nuôi tế bào ung thư phát triển nhanh. Thay chất ngọt đường bằng chất ngọt thực vật, hoặc tổng hợp thiên nhiên như mật ong Manuka hoặc nước mật đường nhưng rất ít. Muối bàn có hóa chất làm trắng, tốt hơn nên dùng muối biển.

b/ Sữa vào cơ thể thành chất nhờn, đặc biệt trong đường tiêu hóa. Tế bào ung thư được nuôi dưỡng bởi chất nhờn đó. Bỏ sữa thay thế bằng sữa đậu nành không đường. Tế bào ung thư sẽ bị đói.

c/ Tế bào ung thư phát triển trong môi trường acit. Thịt cơ bản là acit. Ăn cá và một ít thịt gà tốt hơn là ăn thịt bò và thịt heo. Thịt chứa thuốc kháng sinh gia súc, hooc môn tăng trưởng (hormone), ký sinh trùng ...tất cả các thứ này đều có hại, đặc biệt đối với bệnh nhân ung thư.

d/ Chế độ ăn uống với 80% rau tươi và nước ép, đậu mè, đậu phụng và một ít trái cây giúp cho cơ thể ở trạng thái trung hòa. 20% còn lại đến từ thức ăn nấu chín. Rau tươi, nước ép giúp cho con men sống có khả năng thẩm thấu vào các mô tế bào trong vòng 15 phút để nuôi dưỡng và làm khỏe thêm các tế bào tốt. Hãy uống nước rau tươi (hầu hết các loại rau kể cả mầm hạt đậu), và ăn rau sống hai hay ba lần một ngày. Những con men sống này bị chết ở nhiệt độ 104ºF hay ở 40ºC.

e/ Tránh café, trà và chocolate, các thứ này nhiều cafeine thay thề bằng trà xanh, vì nó có khả năng chống tế bào ung thư. Tốt nhất uống nước lọc. Tránh uống nước vòi (tap water) vì trong có độc tố vi khuẩn và chất sắt nặng (heavy metals), tránh nước cất vì có acid (acidic).

(Tài liệu từ bệnh viện Johns Hopkins, Hoa Kỳ)
(Chuyển ngữ LÊ VĂN NGÔ)

Được đăng tại :
https://www.facebook.com/nhon.tran.501/posts/238135589717227

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

Báo cáo về bệnh Ung thư


;

Báo cáo về bệnh Ung thư

* Giới thiệu 
Bộ phim này dành để tưởng nhớ đến Clara Corriher, và cũng như hàng triệu trường hợp khác chưa được kể đến, đã đặt niềm tin vô vọng vào ngành công nghiệp ung thư.
Clara Corriher (1937-2010) Sau khi tinh thần và thể chất của cô đang dần hủy hoại (ví dụ như: “chemo-brain” hóa trị gây suy giảm chức năng nhận thức của não), Bác sĩ điều trị ung thư của Clara đã điều cô xuống một cái trạm xá. Điều trị viên của Clara, Nick, không muốn chứng kiến cảnh cô chết. Thế nên cô đã bị hất cẳng ra khỏi bệnh viện, mặc dù chỗ này còn tới hơn 50% chiếc giường trống. Nhân viên trạm xá duy trì cô trong tình trạng hôn mê bằng thuốc, do đó Clara sẽ không trở thánh gánh nặng cho họ. Họ hoàn toàn để cô trong trình trạng suy dinh dưỡng và mất nước. Họ lại gây mê cô ấy mỗi khi cô đủ tỉnh táo để kêu gọi sự giúp đỡ. Người thân và gia đình đã được trấn an tiếng thở thoi thóp bằng thứ âm thanh sôi sục. Điều trị như thế được coi là bình thường, thậm chí còn cao thượng, bởi những người trong cuộc. Bỏ đói tới chết là lối “đối xử nhân đạo” ở Nữu Ước, Và nó luôn luôn phù hợp hơn là cố gắng tìm ra những liệu pháp thay thế.
“Càng biết ít càng thi hành nghĩa vụ tốt” - George Garquhar

*Khải huyền của dịch bệnh 

Ung thư là một phần tất yếu của cuộc sống. Một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh loại bỏ lượng tế bào ung thư được loại bỏ gần với mức mà chúng được tạo ra. Bùng phát ung thư trên diện nhỏ đã từng tồn tại vào những thời xa xưa. Nó được ghi nhận tại các tàn tích chứa nồng độ chì mức cao ở Roma và Ai Cập. Trước thế kỷ 20, ung thư hiếm gặp đến nỗi người ta chỉ xem nó như một loại bệnh không rõ triệu chứng. Sau cách mạng công nghiệp của thế kỷ 20, loài người đã tiếp xúc với hàng vạn loại độc tố mới, bao gồm các chế phẩm hóa dầu, Flouride, Chlorine và chất phóng xạ. Theo sau đó là nhựa. Sự tấn công vào hệ miễn dịch phức tạp của chúng ta bằng một loại thế hệ phân bón hóa học mới, là loại thiết kế để làm suy kiệt các chất dinh dưỡng quan trọng có từ đất trồng. Phần lớn những người sống trong đất nước công nghiệp hóa, đặc biệt là người Mỹ, không hề nhận ra rằng họ đang mắc chứng suy dinh dưỡng mãn tính. Chứng béo phì đã bùng nổ, bởi vì mọi người đang ở trong trạng thái “giả đói” dù cho có ăn bao nhiêu đi nữa, chứng này quay ngược lại kích thích lối ăn uống nghèo nàn, khiến các vấn đề xuống dốc về dinh dưỡng còn trầm trọng hơn nữa. “Thực tế đáng báo động nằm ở thực phẩm (trái cây, rau quả và ngũ cốc), bây giờ dù có nâng lên hàng triệu mẫu đất cũng không cung cấp đủ số lượng, chúng ta đang chết đói – việc chúng ta ăn được bao nhiêu cũng chẳng còn là vấn đề nữa” - Văn bản Thượng Nghị Viện Mỹ số 264 - Tiến Sĩ – Bác Sĩ Y khoa Michael Schachter
Phơi nhiễm phóng xạ, suy dinh dưỡng, và các loại độc tố hòa trộn với nhau tạo nên loại bệnh cảnh có tên là “nhiễm toan”, đó là ung thư không biểu hiện giai đoạn đầu. Điều này càng diễn tiến hơn về sau. “Chlorine là một kẻ đầu độc và giết người đứng đầu của thời hiện đại. Khi dứt được một triệu chứng bệnh này của nó, thì một cái khác lại lòi ra. Hai thập kỷ trước, khi chúng ta bắt đầu uống nước nhiễm Chlor vào năm 1904, thì cho đến hiện tại đã bùng phát các vấn đề về tim mạch, ung thư và lão hóa”. - Tiến Sĩ - Bác sĩ Y khoa Joseph M.Price
“Nếu Flour đổ xuống sông, sông ô nhiễm. Nếu đổ xuống hồ, hổ ô nhiễm, nhưng nếu đi vào hệ thống lọc nước uống thì lại không bị ô nhiễm. Thật là thần kỳ.” - Tiến Sĩ J. William Hirzy, E.P.A.
“Trích từ quyển cẩm nang, “Chất độc của các Sản Phẩm Thương Mại”, thì Flour độc hơn chì, và chỉ ít độc tính hơn Asen một chút. Đó là loại chất độc được tích lũy vào trong xương hàng năm.” - Tiến Sĩ – Bác Sĩ Y khoa Michael Schachter
“Theo nghiên cứu của ngành dịch tễ học, vào giữa những năm 70 bởi Tiến Sĩ Dean Burk, chủ nhiệm khoa hóa học tế bào của viện Ung thư quốc gia, đã chỉ ra rằng 10.000 hoặc nhiều hơn nữa những ca ung thư tử vong có liên quan đến flour, xảy ra hằng năm ở Hoa Kỳ. Năm 1989, tác nhân flour có khả năng biến đổi các tế bào bình thường thành tế bào ung thư đã được chứng nhận bởi phòng thí nghiệm quốc gia Argone”. - Tiến Sĩ – Bác Sĩ Y khoa Michael Schachter
Các công ty hóa chất đang tìm kiếm những cải tiến đề đầu độc chúng ta mỗi ngày. Có tới hàng vạn hợp chất độc hại trong thực phẩm. Dưới đây chỉ là một vài trong hàng ngàn ví dụ điển hình Bạn nghi ngờ rằng một lát thịt như thế này sẽ làm tăng khả năng mắc phải ung thư của bạn, bởi vì đây là thịt đỏ, ẩn chứa bên trong tất cả những miếng thịt đó.
Uy tín chính là nhờ bối cảnh thành lập ra ngành công nghiệp hóa chất Bản chất của thịt trong trạng thái tự nhiên là vô hại. Thực chất, ung thư được gây ra bởi muối Natri nitrat và kali nitrat được các nhà máy thực phẩm và hóa chất tẩm ướp vào trong “thịt đỏ”. Điều này đã được phía các nhà khoa học xác nhận hàng chục lần, nhưng đừng có mà trông mong sẽ nghe được nó từ phía bác sĩ điều trị của bạn. Các thực phẩm hữu cơ không bao giờ được các nhà máy thực phẩm hay hóa chất sử dụng trong quá trình nghiên cứu điều chế, bởi vì kết quả luôn bị thua lỗ.
Lấy một ví dụ về trường hợp của những quả trứng. Chuỗi thức ăn – trứng gà ta thì không tác động bất lợi đến việc hấp thụ cholesterol. Việc nghiên cứu đầu tiên là ở những quả trứng ung, bột vỏ trứng được thải ra từ các trại gà công nghiệp. Đó là cách mà họ thu mua dữ liệu để có được cái chứng nhận “khoa học” độc quyền, đúng như trong dự định ban đầu của mình.
Họ muốn chúng ta phải tin rằng bằng cách nào đó chúng ta đã bị ốm bởi những loại thực phẩm tự nhiên, một cái chuyện chưa bao giờ xảy ra trong suốt 9.000 năm nay, thay vì thừa nhận rằng chúng ta phát bệnh bởi thuốc độc của họ. Họ đã thành công rồi đó Giống gà này thì có thịt chắc nịch hơn bất kì con gà ta nào bạn có thể tìm được, và đó là một dấu hiệu tốt. Đó là do hầu hết các giống gà của Mỹ đều được ăn Asen ngay từ lúc mới sinh. Những giống gà bị nhiễm độc thì tư khắc chúng sẽ béo, chẳng cần biết chúng ăn uống ra sao, cứ như thế thôi là chúng đã được bán với cái giá cao hơn. Cái quá trình kinh khủng này đã được FDA thông qua vào năm 1944, và đó là chuyện “bình thường” Bạn có nhận được cái khuyến cáo lượng Asen mỗi ngày là bao nhiêu chưa? Nơi nào trong cái bao tử của bạn bị rối loạn, nơi đó luôn có hoạt tính phóng xạ pepto. Bismuth luôn có hoạt tính phóng xạ.

* Chiến trường 

Khi mà các bác sĩ tiến hành đình công ở Israel vào năm 1983, và thêm một lần nữa vào năm 2000, con số ca tử vong đã giảm xuống còn 50%. Năm 1976, số lượng các ca tử vong ở Los Angeles giảm 18%, khi các bác sĩ L.A. tiến hành đình công trong vòng 1 tháng. Kiểu hình các bác sĩ đình công như thế này đã được nhân rộng gấp 5 lần trên toàn thế giới.
Con số tử vong bởi thuốc và các phương pháp điều trị ung thư hàng năm vượt ra ngoài con số tử vong bởi chiến tranh trong lịch sử nước Mỹ.
Theo lần ghi nhận gần đây nhất trong dữ liệu điều tra dân số Hoa Kỳ (2005), ung thư là 2 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Mỹ, chỉ trước các tác dụng phụ của thuốc một chút.
Tiền công nghiệp hóa và tỷ lệ ung thư ở thời điểm hiện tại: cứ 25 người thì có 1 người chết vì ung thư vào năm 1900. Hiện nay, cứ 4 người thì có 1 người chết vì ung thư, phần lớn các ca tử vong là do thuốc. 41% người Mỹ sớm muộn gì cũng sẽ bị chẩn đoán là mắc bệnh ung thư. Hầu hết những người Mỹ đang vào giai đoạn tiền ung thư, đều được chẩn đoán là bị nhiễm toan.
Liệu pháp hóa trị và xạ trị được cho là phương pháp điều trị ung thư khoa học nhất. Tuy nhiên, những con số khoa học đó chẳng ăn khớp gì với nhau.
Tính trung bình, Liệu pháp hóa trị và xạ trị chỉ có hiệu quả 4-5% trong cả một quá trình phục hồi dai dẳng. 100% quá trình điều trị đều độc hại.
Cụm từ “điều trị thành công” được các bác sĩ chuyên khoa ung thư và y văn định nghĩa, tức là không có các khối u (chẳng có tí dính dáng gì đến ung thư) trong vòng 5 năm, và họ tiếp tục đếm con số bệnh nhân ‘sống sót’, dù cho 6 năm sau là những người này có chết đi chăng nữa, những con số này tiếp tục được họ xào nấu thành tỷ lệ chữa bệnh của mình. Đây là một trong những cách mà khoa học điều chế cho ra đúng thuốc khớp với những con số của mình.
“Những nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng, những bệnh nhân ung thư không điều trị sống lâu hơn gấp 4 lần những bệnh nhân điều trị. Đối với các loại ung thư điển hình, thì người từ chối điều trị có thể sống giao động trong vòng từ 12 năm rưỡi. Còn những ai chấp nhận phẫu thuật, hay các phương pháp trị liệu khác [hóa trị, xạ trị, cobalt] chỉ có một mức trung bình là 3 năm.” -Tiến sĩ Hardin Jones, bộ môn sinh lý học, đại học California, Berkeley. Số ca trẻ em được chữa khỏi chứng Hodgkin thì cứ hơn 18 ca là có khả năng phát triển các hậu chứng thứ cấp của khối u ác tính. Các rũi ro về bệnh bạch cầu tăng đáng kể từ sau 4 năm phương pháp điều trị thành công kết thúc, và đạt sự ổn định sau 14 năm, nhưng nguy cơ tái phát triển các dạng u đặc vẫn giữ nguyên ở mức cao và đạt ở mức 30% trong vòng 30 năm. - Tạp chí y học New England
Ung thư bùng phát dạng thứ cấp bị gây ra bởi phương pháp điều trị chết người và kinh hoàng hơn nhiều so với loại ung thư ban đầu.
Tất cả những phương pháp điều trị hạt nhân và hóa trị được biết là căn nguyên gây ra và di căn ung thư. Những phương pháp vô lý này được gọi là “biết được mặt trái của hiệu quả”. Động thái sàng lọc để phân loại ung thư cũng cùng một kiểu với phương pháp điều trị, đưa ra càng nhiều trường hợp bệnh nhân nhiễm phóng xạ và các độc chất công nghiệp càng tốt. Đây là lý do mà con số mắc bệnh ung thư vú bùng phát cùng với sư gia tăng những thử nghiệm chụp nhũ ảnh.
Trường hợp tử vong do điều trị (tử vong do bác sĩ điều trị) đứng thứ 3 trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Mỹ trích từ thống kê riêng của các tổ chức y tế. Cái chết bởi thầy thuốc bình thường tới nỗi người ta đã gói gọn nó trong một từ ‘iatrogenic’- do thầy thuốc.
Các cô gái phải trải qua hóa và xạ trị phải đối diện với nguy cơ 35% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú vào độ tuổi 40, 75% là điều này sẽ xảy ra cao hơn cái mức trung bình 35% kia. Bức xạ quang tuyến vú cũng sản sinh ra các loại ung thư, đặc biệt là ở vùng ngực.
“Một nghiên cứu với hơn 10.000 bệnh nhân cho thấy rõ ràng rằng chỉ định hóa trị mạnh cho chứng Hodgkin (u hạch bạch huyết) được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án thực là trò lừa bịp. Những bệnh nhân trải qua hóa trị, có hơn 14% phát triển các bệnh bạch cầu và hơn 6% phát triển ung thư các cơ xương khớp gấp hiều lần những bệnh nhân không phải trải qua hóa trị liệu - Tiến sĩ-Bác Sĩ y khoa John Diamond
“Chemo-brain” hóa trị gây suy giảm chức năng nhận thức của não, sử dụng loại liệu pháp hóa trị liên quan đến hệ thần kinh vĩnh viễn là một thách thức tinh thần to lớn cho bệnh nhân. Có vô số các loại thuốc mà bác sĩ có thể kê toa để bạn mua (nhằm duy trì nửa phần đời còn lại của bạn), để ‘điều trị’ và ‘quản lý’ tâm trí của bạn.
“Nếu một bệnh nhân bị u não đang được chỉ định điều trị bằng xạ trị hay hóa trị liệu pháp, chỉ có mỗi một câu hỏi duy nhất được đặt ra, “Làm cách nào mà khối u có thể hoạt động được?” Không một ai đặt câu hỏi đó với bệnh nhân. Trong quá trình đào tạo y khoa của mình, tôi đã nhớ rất rõ những bệnh nhân đang trải qua quá trình xạ trị hay hóa trị. Khối u sẽ càng ngày càng nhỏ, tình hình sức khỏe bệnh nhân sẽ càng ngày càng tệ hơn. Khi khám nghiệm tử thi các bác sĩ sẽ reo lên, “Thật là thần kỳ! Khối u đã biến mất! Vâng, đúng thế, nhưng làm ơn đi, đây là bệnh nhân.” - Tiến sĩ Philip Binzel
TIến sĩ Ewan Cameran, đã 2 lần đoạt giải Nobel, chiến thắng một nghiên cứu của Linus Pauling ở Scotland (mà nghiên cứu của Linus sau này đã được nhân rộng trên các nghiên cứu tại Canada và Nhật Bản), bằng so sánh giữa việc điều trị vitamin C với hóa trị liệu.
Đoán thử xem, nhóm bệnh nhân này sẽ sống dai hơn thời gian trung bình của các bệnh nhân ung thư là bao lâu? Và số bệnh nhân trong nhóm này là bao nhiêu?
Vitamin C giúp kéo dài tuổi thọ trung bình của các bệnh nhân ung thư lên gấp 6 lần, và đương nhiên cũng làm chất lượng đời sống của họ tốt hơn. Có một sự khác biệt so với thực tế là Vitamin C tăng cường hệ thống miễn dịch, thay vì làm suy yếu nó hơn như hóa trị đã làm.
“Là một nhà hóa học được đào tạo để giải thích dữ liệu, thông tin này khiến tôi khó mà chấp nhận rằng các bác sĩ đã bác bỏ bằng chứng rõ ràng rằng càng hóa trị bao nhiêu, càng hại nhiều hơn là lợi.” -- TIến sĩ Alan Nixon, cựu chủ tịch của hiệp hội hóa học Hoa Kỳ.
Hóa trị liệu cho ung thư da (ung thư da còn được biết như “viêm da do bức xạ”) “Những người [mắc ung thư hạch bạch huyết] còn sống sót thường là 11% trên tổng các số ca tử vong, mặc dù con số này đã giảm trong những năm qua, nó vẫn còn cao gấp 3 lần dự kiến con số chẩn đoán ban đầu của họ trong vòng 45 năm trở lại đây.” - Reuters New Service
Bệnh nhân ung thư đều có nguy cơ tử vong do nhiễm trùng máu bất kỳ lúc nào, điều đó là hiển nhiên vì hóa trị liệu đã phá hủy hoàn toàn hệ thống miễn dịch của bệnh nhân, và do đó vi khuẩn đã từ đó dễ dàng xâm nhập và giết chết bệnh nhân. Thông thường thì những trường hợp như thế này lại được tính là “tử vong do nhiễm trùng máu” thay vì là tử vong do ung thư. Đó là một phương cách khác để hội đồng y tế thao túng các số liệu thống kê về sự an toàn và hiệu quả của hóa trị và xạ trị liệu pháp.
Sự biện minh tương tự cũng được áp dụng thành những ca tử vong do viêm phổi, loạn nhịp tim, và tiểu đường để thay cho nguyên nhân thực sự được gây ra bởi các tia phóng xạ và thuốc chống ung thư.
Ngành công nghiệp hóa dầu và ngành y tế công cộng đã cùng hợp tác với nhau để trở thành cơ quan ngôn luận của chính phủ, ra sức thuyết phục chúng ta rằng ánh sáng mặt trời là một loại tiền tố ung thư.
Ánh sáng mặt trời sản sinh ra vitamin D nhờ có cholesterol có trong da, nó bỏ bớt sự dư thừa cholesterol. Quan trọng hơn nữa là vitamin D (được tạo ra từ ánh sáng mặt trời) làm giàm đi 70% các bệnh ung thư, trong đó có cả ung thư da.
Người ta có tỷ lệ hấp thụ ánh nắng mặt trời cao hơn khi họ sử dụng kem chống nắng. Đôi khi các thành phần trong kem chống nắng còn tự sinh ra các đồng phân có độc tính, gây ung thư khi có xúc tác ánh sáng. Nếu không, chúng sẽ bao gồm những thành phần có khả năng tích tụ gây ung thư như Oxide Kẽm, Titan Dioxide, và nhôm hydroxide.
Các công ty hóa chất đã tạo ra vấn đề, để họ có thể kinh doanh trên chúng ta bằng giải pháp của riêng họ. Các giải pháp phòng tránh mà họ nói chỉ đơn giản là không để lộ ra thứ chất độc mà họ đang kinh doanh.Tiếng nói của họ vô cùng mạnh mẽ trên các kênh truyền thông đại chúng, cho nên họ mặc nhiên có thể đổ lỗi những bệnh tật đã gây ra cho chúng ta là do mặt trời. Chứng thiếu hụt vitamin D rất là phổ biến hiện nay, chứng minh rằng mọi người đã không nhận được đủ ánh sáng mặt trời.
Chỉ có ung thư da là trở thành vấn đề lớn vào giữa thế kỷ 20, sau khi kem chống nắng ra đời, cũng như cái cách mà ung thư vú bùng phát khi phương pháp chụp nhũ ảnh ra đời. Nuôi con bằng sữa mẹ chẳng hạn, đâu phải chỉ có mỗi chụp quang tuyến vú là cách chắn chắn nhất để phòng ngừa ung thư. Trong khi thực tế, ung thư chỉ được biết như là “căn bệnh của nữ tu”.
Điều đó ước tính rằng chỉ có 10-20% các chẩn đoán và điều trị lâm sàng là được chứng minh rằng nó có hiệu quả bằng những thử nghiệm đã được kiểm soát.
- Văn phòng của chương trình đánh giá và báo cáo về công nghệ y tế lên Hội đồng Thượng nghị viện Mỹ, năm 1978.
Thời gian trung bình đã dự kiến để chữa bệnh thường được kéo dài thêm 4% trên tổng số quá trình (đó là chưa tính trong vòng 5 năm trở lại đây họ đã dung những tinh đồn để gian lận các thông số chữa trị) Vì vậy, với lượng độc tố trong các “phương pháp điều trị quy chuẩn”, thì có khoảng 96% khả năng là phương pháp điều trị sẽ giết bạn, nhiều hơn là căn bệnh ung thư sẽ giết chết bạn. 

* Hệ thống 

“Bạn sẽ không tin nổi số lượng nhân viên của FDA hay người quen của họ đến gặp tôi ngang ngửa với số bệnh nhân ở Hanover đâu! Bạn không thể nào tin nỗi điều này! Không FDA thì cũng là giám đốc của AMA, ACA hay người đứng đầu các viện ung thư chính quy.” - Trình dược viên Hans Nieper, bào chế dược phẩm
“Điểm mấu chốt là các hệ thống y tế là nó được chi phối bởi các nhà tài phiệt để phục vụ cho các mục đích tài chính. Bạn chẳng có ai để phục vụ trừ khi có người bị bệnh, toàn bộ hệ thống y tế được thiết kế để làm con người càng ngày càng bệnh tật nhiều hơn.”
- Trình dược viên, tiến sĩ Guylain Lanctor, tác giả của 'The Medical Mafia: How to Get Out of It Alive and Take Back Our Health & Wealth'
Ngành dược đã được bắt đầu tẩy não (nhồi sọ) khi còn rất sớm
Loại quảng cáo được Ritalin sử dụng có tên là “hội chứng khi mẹ mệt mỏi”, trước khi A.D.D phanh phui nó là một hình thức mua bán “rẻ tiền” của Ritalin.
Ngày xưa, nhiều phim hoạt hình của trẻ em diễn tả rau củ là một hình thức làm tăng thể lực và sức mạnh siêu nhiên.
Thứ quyền năng đặc biệt này trở thành phương tiện để tự bảo vệ chính mình và mọi người, chứ bản thân nó lại chẳng phải là loại phương tiện nào.
Các nhân vật trong hoạt hình và trò chơi miễn nhiễm với các loại độc, chất nổ và tia phóng xạ. Mà những thứ như thế là vũ khí của kẻ ác, và kẻ ác tới giờ vẫn còn sử dụng những cách thức đó.
Với ngành giải trí cho các thiếu nhi thời đại này, thì hóa chất và phóng xạ cung cấp siêu năng lực. Phẩm chất của đạo đức và sức khỏe đã trở nên lỗi thời rồi.
Tốt hơn trên cả các loại hóa chất, đặc biệt có các hóa chất có hoạt tính phóng xạ. Ngành công nghiệp hạt nhân và hóa dầu hiện tại là nguồn gốc của năng lượng chống lại tự nhiên, và đột biến gene lại được xem như là một điều gì đó thật tuyệt vời, góp phần phát triển công nghệ sinh học.
Ai đã nhìn thấy mấy cái mô hình chưa? Mấy cái mô hình đó bây giờ thế nào rồi? Ngay chính lúc này? Và, đương nhiên, hãy ở đó mà chờ cho đến khi chúng trở nên cũ rích… Muốn biết thế nào là tham nhũng thì cần phải có kiến thức về Cục Quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ, những cộng sự và lịch sử tăm tối của Cục.“AI nắm giữ quá khứ sẽ kiểm soát tương lai. Ai nắm giữ hiện tại sẽ tóm gọn quá khứ” - George Orwell’s “1984”
Cục quản lý thuốc và thực phẩm (F.D.A) lúc mới bắt đầu thành lập chỉ là một cơ quan quản lý hóa chất, thời gian sau được gọi là Cục quản lý hóa chất, mãi về sau mới đổi tên thành F.D.A.
Cái tên đã được thay đổi để bưng bít các dự án hóa chất công nghiệp.
Cơ quan này cấp cho các công ty một tư cách pháp lý để đưa hóa chất vào thực phẩm, các hãng dược phẩm nào được FDA “thông qua”, những hãng này có từ bỏ đạo đức thì cũng không vi phạm pháp luật quy định cho ngành công nghiệp hóa chất được.
Nguồn gốc các hóa chất từ Cục quản lý hóa chất, năm 1909 – mà sau này trở thành FDA.
Trên đó là công việc thực sự của họ, và nó là “thông qua” và xử phạt những sản phẩm thuộc ngành công nghiệp hóa chất, và họ bưng bít một cách hợp pháp cho những hóa chất trong ngành công nghiệp này bằng cách…tuyên bố cái gì mới là “an toàn”.
Họ đều đặn chia sẻ những dữ liệu được bảo mật với các nghiệp đoàn hóa học cộng sự để làm giảm nhẹ trách nhiệm. Ví dụ, những thông tin ô nhiễm mà họ đã ém nhẹm trước công chúng. Đây là những vấn đề trong “quan hệ công chúng”
Một trường hợp công ty hóa chất được “FDA thông qua” đã may mắn thắng vụ kiện 1 tỷ dollar tại tòa án Mỹ, và đã trình một G.R.A.S (Chứng nhận an toàn chung) trong tình trạng an toàn được bảo mật. Đây là lá chắn cho các nghiệp đoàn hóa chất, và cho họ cái quyền bào chữa chính đáng.
Mô hình F.D.A hiện đại hơn được tiến hành vào năm 1913- trong cùng một năm thành lập ra quỹ Rockefeller. Tay nắm tay, FDA - Quỹ Rokefeller và Hiệp hội y tế Hoa Kỳ, cùng nhau hoạt động sát cánh. Quỹ Rockefeller được thành lập vào năm 1913, với mục đích trọng yếu là nhắm vào các hoạt động y tế và đào tạo y khoa.
Tài trợ ban đầu của Rokefeller cho trường y đạt trên 550.000.000 dollar. Chỉ trong năm 1928, Quỹ Rokefeller đã tài trợ tiền cho 18 trường y trên khắp 14 quốc gia.
Những cộng sự của Rokefeller tại FDA đã bắt đầu thúc đẩy cuộc cạnh tranh khốc liệt về các loại thuốc ức chế với ngành công nghiệp hóa chất.
“Tôi sẽ không đời nào công nhận mọi loại thuốc mới đến từ bất kỳ các nghiệp đoàn hóa chất tư nhân nào, trừ phi loại thuốc ấy đến từ một hãng dược khổng lồ với những nguồn tài chính vô hạn. - Tiến sĩ Richard J.Crout, giám đốc của chi cục quản lý thuốc của FDA (Spotlight, 18 tháng 1, 1982)
Các loại thảo dược có tác dụng ức chế là thứ mà ngành công nghiệp của họ không thể kiểm soát, và độc quyền bằng tấm bằng sáng chế “thuốc” (hóa chất). Tự nhiên chẳng bao giờ cần được cấp bằng sáng chế cả. Đó là lý do tại sao tất cả các liệu pháp thiên nhiên và không gây độc hại hiển nhiên trở thành một loại “thủ đoạn” khác của FDA, nghiệp đoàn hóa chất, và các đơn vị y tế.
Chỉ có những hóa chất trái với tự nhiên (như phi hữu cơ và chất độc) là có thể được cấp bằng sáng chế, và những loại thuốc không chứa độc tố là một mối đe dọa trong việc kinh doanh thuốc men.
“FDA bảo vệ các tập đoàn dược phẩm lớn, và sau đó nhận được khen thưởng, và sử dụng quyền lực của một tổ chức chính phủ, họ bắt giữ những mối nguy hại lên các hãng dược lớn. Người người nghĩ rằng FDA đang bảo vệ họ. Nhưng không. FDA nào có làm thế, điều mà họ đang thực hiện trái ngược hoàn toàn so với những gì dân chúng có thể hình dung, sự trái ngược đó như là ngày với đêm vậy.” - Tiến sĩ Herbert Ley, Former Commissioner of FDA
“Vào năm 1919, việc Rockefeller trao tặng một số trường y ở Canada 5.000.000 dollar đã góp phần làm nên nền giáo dục y khoa Canada đến tận thế kỷ 20 - McGill University Press
Y học thời đó làm gì có cái thị trường sinh ra lợi lộc như bây giờ, thế nên các trường y đã phải nương nhờ vào các khoản viện trợ của Rockefeller dành cho những trường đào tạo đạt yêu cầu.
Rockefeller yêu cầu tuân thủ các quy định từ bỏ các thể loại y học truyền thống và các dược liệu tự nhiên, thay vào đó là một thế hệ mới của các dẫn xuất hóa dầu trong các sản phẩm thuốc, và thiêu rụi toàn bộ ghi nhận bởi thư viện của quá khứ. Điều gì đã xảy ra mà đã khơi mào cho nạn đốt sách ở khắp nơi, và trong một vài trường hợp, chính FDA đã thiêu hủy sách. Đó là thời điểm làm nguy hại đến các phương pháp trị liệu tự nhiên truyền thống (ngành công nghiệp không khói) của các bác sĩ.
Tất cả những ai bất đồng chính kiến đã từng dành thời gian đề thử nghiệm trên toàn phương diện của các liệu pháp thiên nhiên để chữa lành bệnh, từ nay sẽ được xem như bị quỷ ám, một dạng “lang băm” trong hệ thống đào tạo y khoa chính quy.
Dù cho đó có là những “lang băm” đoạt giải Nobel y học, và kết quả thu được sâu rộng đến chừng nào. Đây là chiến lược cây gậy và củ cà rốt. Trường học đạt yêu cầu sẽ được đưa ra trước mặt củ cà rốt (tiền của Rockfeller). Các bác sĩ truyền tay nhau cái cây gậy (cảnh sát cơ động của FDA). Một số bác sĩ đã phải rục xương trong tù vì đã chữa lành bệnh nhân với loại thuốc “không được thông qua kiểm nghiệm”. Điều đó vẫn cứ xảy ra cho đến giờ…
Tại các cửa hàng mua bán thực phẩm hữu cơ (không chứa hóa chất công nghiệp)… Có các vitamin hay sữa tươi có thể thực sự tiêu diệt các tế bào ung thư. Điều đó có nghĩa là chẳng cần phải có các bác sĩ với những phương pháp chữa bệnh nào nữa. Thực dưỡng là bất hợp lý, dù bằng cách này hay cách khác vì chẳng có một phương pháp thực dưỡng nào được “thông qua” cả. Phương pháp chữa bệnh có nghĩa là vô tư - không bị ràng buộc bởi các chất hóa học: tự do hay không là do họ quyết định.
Một mối quan hệ bất chính được hình thành giữa hiệp hội y học Hoa Kỳ, FDA, và Quỹ Rockefeller. Để đảm bảo các trường y được lựa chọn tuân thủ theo, các thành viên trong ban giám đốc điều hành của quỹ Rockefeller thường xuyên nhấn mạnh và nhắc nhở lại các quy tắc. Ủy ban giáo dục chung của quỹ Rockefeller, được thành lập năm 1914, cam kết sẽ chi 500.000 dollar cho phía trường đại học, sau tăng lên 1 triệu rưỡi dollar vào ngày 1 tháng 1 năm 1916, và chịu chi lương cho các bài giảng lâm sàng của giảng viên [chỉ có các vị có học vị chính quy mới được hưởng mức ưu đãi này]. Bằng tiền của Brady và hy vọng nhận được từ tài trợ của GEB, bệnh viện và công ty cổ phần Yale đã ký kết hợp đồng sát nhập trước kỳ hạn là vào ngày 1 tháng 7 năm 1914 của bệnh viện. - Web Site của khoa Y – đại học Yale
Y học kiểu mới có những khả năng pháp lý độc quyền, cùng song hành với độc quyền ở lĩnh vực công nghiệp hóa dầu của Rockefeller trong quá khứ. Thay vì chỉ sở hữu tất cả các nguồn dầu khí, đế chế Rockefeller hiện nay đã kiểm soát hầu hết tất cả các loại thuốc men tiêu dung. Y sở hữu vị chúa sơn lâm được gọi là “công nghiệp dược phẩm” trong thị phần ngành công nghiệp hóa chất.
Lại một lần nữa, thuốc men sẽ được kiểm tra và phân phối đến cư dân Mỹ, Các chi nhánh trên toàn thế giới rồi cũng sẽ nhận được như thế. Suốt cả cuộc đời, quý ngài John D. Rockefeller đã từ chối bãi nhiệm chức vị của mình trong ngành y không biết bao nhiêu lần. Nhưng cả đời ngài lại sử dụng những phương pháp toàn diện của y học truyền thống cho mục đích sức khỏe của chính mình. Nhiều người bạn của ngài tại FDA và AMA cũng cùng một kiểu như thế. Sau khi quyền điều hành tại các trường y bị chiếm giữ, thì các cuộc thương vong bởi bệnh bại liệt- tim- và ung thư thực sự bùng phát. “Từng có một chuyên gia u não chiễm trệ trong phòng khách của tôi bảo với tôi rằng anh ta sẽ chẳng bao giờ xạ trị nếu như chẳng may y bị u não đi nữa. Và tôi hỏi anh ta rằng, “thế chẳng phải anh vẫn chuyển người ta đến khu xạ trị sao?”. Anh ta điềm nhiên trả lời “ Phải thế thôi, nếu muốn bị tống cổ khỏi bệnh viện thì tôi sẽ không làm điều đó” - Tiến sĩ, bác sĩ Ralph Moss.
90% bác sĩ chuyên khoa ung thư sẽ không bao giờ chỉ định chiếu xạ cho ung thư phổi. 84% sẽ không chỉ định hóa trị cho ung thư ruột kết. - Nghiên cứu của đại học Harvard được công bố tại Mỹ viện sức khỏe quốc tế : “Bất kỳ bác sĩ chuyên khoa ung thư nào cũng sẵn sàng bác bỏ các liệu pháp kháng ung thư”
Big Pharma bắt đầu gửi những món quà đến trường y, và càng về sau sự nghiệp của sinh viên thì những món quà này càng lớn hơn. Các bác sĩ chuyên khoa khác chỉ đơn giản là viết toa thuốc, nhưng riêng bác sĩ chuyên khoa ung bước [bác sĩ gây ung thư] hầu hết đều thu mua các loại thuốc trên thị trường, và kiêm luôn người bán chúng cho bệnh nhân với giá trên trời. Họ cho bệnh nhân biết rằng những người này sẽ chết nếu không có thuốc. - NBC Nightly News story, các bác sĩ khoa ung thư thu lợi nhuận từ các thuốc hóa trị liệu.
“Phần lớn bệnh nhân mắc bệnh ung thư ở đất nước này chết vì hóa trị. Liệu pháp hóa trị không loại bỏ tuyến vú cho ung thư vú, cho ung thư đại tràng hay ung thư phổi. Sự thực này đã được ghi nhận trong hơn 1 thập kỷ qua, nhưng các bác sĩ vẫn áp dụng hóa trị đối với những khối u loại này. Nữ giới bị ung thư vú có nguy cơ chết nhanh hơn là không có hóa trị.” - TIến sĩ, bác sĩ y khoa Alan Levin
“Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ đã cố gắng hủy đi nền tảng nghiên cứu của tôi”. - Tiến sĩ Albert Szent-Gyorgyi, người nghiên cứu những đột phá của vitamin C, người chiến thắng giải Nobel Y học năm 1937
Đoán thử xem khi nào tổ chức này được thành lập và bởi ai. Tổ chức này được thành lập bởi John. D. Rockefeller Jr., trong phép màu của năm 1931, cùng thời điểm “hiến tặng” ở đại học Havard. Bạn có tin nổi một ngày đẹp trời nào đó học sẽ công bố phương pháp chữa bệnh, và vứt bỏ chiếc xe tải chất hàng đống tiền của mình không? Câu trả lời hợp lý hơn sẽ là vitamin C đã đe dọa đến sứ mệnh của họ. Niềm tin của chúng ta được dẫn dắt đến “kỳ tích” của nền y học hiện đại, là sự vượt trội hơn so với các loại thảo dược truyền thống. Thứ mà họ không đề cập đến nằm ở khoảng từ 50-70% thành phần của thuốc hóa trị được lấy từ “cỏ dại”. Bao gồm các hợp chất hữu cơ, là lý do tại sao một số loại thuốc đôi khi lại có hiệu quả. Theo ghi nhận từ Ủy ban điều tra dân số Hoa Kỳ, Ung thư là sát thủ đứng thứ 2 ở nước Mỹ, nhưng hầu hết những ca tử vong là do phương pháp điều trị, chứ không phải bệnh ung thư. Các loại dược phẩm là kẻ giết người đứng thứ 4. Nước Mỹ sở hữu một hệ thống y tế nguy hiểm và đắt tiền nhất thế giới. Hệ thống này làm ra 60% tất cả các vụ phá sản. “Không chỉ có một, mà còn rất là nhiều những phương pháp chữa trị cho bệnh ung thư. Nhưng tất cả những phương pháp còn lại đều bị ACS, NCI và các trung tâm ung thư lớn đàn áp. Bởi hiện tại họ đang có quá nhiều lợi nhuận trong chuyện này”. - Tiến sĩ, bác sĩ y khoa, cha đẻ của “chế độ ăn kiêng Atkins”.

* Điều trị bệnh ung thư 

Bất chấp những nhà sáng lập Các phương pháp chữa trị được trích dẫn trong bộ phim này không chịu trách nhiệm riêng cho bất kỳ cá nhân hay tình huống đặc biệt nào, nhưng tỷ lệ cuộc sống khỏe mạnh dài hạn cùng với chất lượng và năng lực là cao hơn khi đặt kế những phương pháp này cạnh những liệu pháp điều trị hiện đại thường quy. Trong các toa thuốc chính thống được kê cho bệnh ung thư, phần lớn là các tên thuốc làm nên một cái chết vô vọng chỉ trong một câu văn.
Đầu tiên và quan trọng nhất, ung thư không phải là bùng phát các khối u. Chúng ta biết rằng cơ sở để xử lý các khối u là như nhau, nhưng nó sẽ làm lãng phí thời gian và chẳng đi đến đâu cả. Cuộc gỡ bác sĩ Otto Warburg, một trong những nhân vật quan trọng nhất, khi ông còn sống.
Hồi ức về bác sĩ Otto Warburg
Vào năm 1931, bác sĩ Otto Warburg đã được trao giải Nobel về y học. Kể từ đó trở đi, những nghiên cứu của ông đã bị các nhà sáng lập y tế chặn đứng đến dư luận rất thành công, để đảm bảo rằng chỉ có ông hay những nhà điều chế thuốc từng tiếp cận với chúng biết đến.
Khám phá của Warburg là một trong những thành tựu lớn nhất của nhân loại, nó chẳng như những chủ đề được thông báo đến các bạn. Các nhà sáng lập thậm chí còn chẳng đề cập nó ở các trường y, ngoại trừ trong mấy lời mỉa mai và hời hợt để làm kiểng.
Tiến sĩ Warburg khám phá ra rằng các tế bào ung thư chỉ phát triển mạnh trong môi trường thiếu vắng oxy, trong khi tế bào bình thường nào mà chẳng cần oxy. Ông phát hiện rằng tồn tại một trường hợp mà các tế bào ung thư bị nhiễm độc có tiếp xúc với oxy. Ông nhận ra rằng các tế bào ung thư bị đột biến không nhận năng lượng từ hô hấp, nhưng thay vào đó là năng lượng được rút ra từ quá trình lên men lượng đường trong máu.
Hơn nữa, Warburg còn nhận thấy rằng cơ thể càng có nồng độ pH thấp (môi trường acid) thì nguy cơ ung thư càng cao, vì cơ thể có nồng độ pH thấp đồng nghĩa là phải tăng cường hệ miễn dịch cho hoạt động hấp thụ oxy (*chú thích: tức nồng độ oxy trong máu sẽ giảm khi độ pH giảm do quá trình hô hấp hiếu khí của chu trình Krebs).
Những ai có nồng độ pH cao (tốt nhất là hơn 7.4) không bao giờ mắc bệnh ung thư, và nồng độ oxy trong máu của họ lúc nào cũng cao.
Tất cả những căn bệnh ung thư bất chấp là nó thuộc hạng mục phân loại nào, thì cũng nhanh chóng bị tiêu diệt ở bất kì cơ thể nào có pH vượt quá 8.5. Phần lớn các tác nhân gây bệnh khác cũng bị tiêu diệt theo.
Bệnh nhân ung thư thường xuyên có độ pH từ 4-5, và chỉ đo được ½ lượng oxy hít vào trong máu của họ. Ung thư thì không tương thích với một môi trường pH lành mạnh là trong máu chứa đầy đủ lượng oxy. Một ví dụ khác là trường hợp ung thư ở tim hầu như không thể tồn tại, bởi vì trong lượng máu chảy từ phổi vào tim có nồng độ pH và oxy là cao nhất trong toàn bộ cơ thể.
Người khỏe mạnh có nồng độ oxy bão hòa trong máu từ 98-100, được đo bằng thiết bị đo nồng độ oxy trong máu, trong khi mức đo được hiển thị của bệnh nhân ung thư thường xuyên trong khoảng 60.
Oxy trong cơ thể của bệnh nhân ung thư được thay thế bằng các chất thải, chẳng hạn như carbon dioxide, làm tăng thêm hoạt động của các độc tố và giàm thiểu oxy, điều đó khiến cho đến lượt của môi trường acid làm nên một loạt biểu hiện bệnh khác.
“Trong năm 1964, cứ 214 người thì chỉ có 1 người mắc bệnh ung thư. Ngày nay, thì cứ 3 nữ là có 1 người bị và cứ 2 nam là có 1 người bị. Yếu tố quyết định giữa sức khỏe và bệnh tật là độ pH. Điều này chẳng phải là không được phổ biết khi mà trung bình các cuộc kiểm tra của người Mỹ nằm ở khoảng pH 4.0 và pH 5.0.” - Keiichi Morishita, tác giả của “sự thật bị ẩn giấu của bệnh ung thư”
Dựa trên những phát hiện này, cơ sở lý thuyết của bác sĩ Warburg là bản chất của bệnh ung thư là một loại cơ chế sinh tồn của cơ thể.
Khi nồng độ oxy giảm đến mức thấp (chèn ép nội tạng), các tế bào phải được chuyển hóa thành dạng tế bào khác để có thể sinh tồn được trong quá trình lên men, để ngăn chặn hoại tử lan ra toàn bộ các khu vực khác của cơ thể.
Nói cách khác, nếu không có ung thư thì mọi người sẽ bị bệnh nặng hơn và sớm từ giã cõi đời này hơn rồi, nó chỉ là một cơ chế bảo vệ tự nhiên.
Điều này cũng được khám phá, và xác nhận bởi trên 3 trường phái nghiên cứu tổng quát trên một cơ thể có chỉ số pH mang xu hướng nghiêng về phía môi trường acid nhiều hơn (gây ra bệnh ung thư), bằng chế độ ăn nghèo dinh dưỡng, nhiễm độc kim loại nặng, dược phẩm, cảm xúc căng thẳng, mất nước, bệnh tật, thành phần muối biển suy giảm, thiếu hụt khoáng chất, dầu ăn tổng hợp, chất béo tổng hợp, chế độ ăn thiếu chất béo, đường tinh luyện và carbohydrate tinh luyện.
Nghiên cứu trên cho thấy rằng, chỉ ngành công nghiệp ung thư sở hữu riêng các thống kê y học- chứng minh rằng hóa trị liệu cũng như xạ trị kéo dài mãi bệnh ung thư. Trong đó, cắt bỏ khối u là phương pháp điều trị nguy hiểm nhất trong tất cả. Chất độc, phóng xạ và nhiễm toan là bộ ba xấu xa của căn bệnh ung thư. Điều này đã được chứng minh từ năm 1931. Đây là lý do tại sao liệu pháp “phòng ngừa” được chỉ định như là hoạt chất phóng xạ chụp quang tuyến vú thực sự gây ra bệnh ung thư.
Đó cũng là lý do vì sao càng nhiều chỉ định “phát hiện sớm”, càng nhiều những căn bệnh ung thư được “phát hiện”. Tỷ lệ các ca bệnh ung thư (và các ca tử vong) ở phụ nữ hoàn toàn không chụp quang tuyến vú là thấp hơn đáng kể so với được chỉ định. Một số liệu pháp có tỷ lệ thay thế từ 80% đến 90% cho việc điều trị suốt đời, bằng việc sử dụng những phương pháp an toàn và không tốn kém phù hợp với cơ chế hoạt động của cơ thể, thay vì phải chống lại căn bệnh.
Không một yếu tố nào trong số những phương pháp này đòi hỏi phải làm nhiễm độc các bệnh nhân, hay chứa hoạt tính phóng xạ.
Không một phương pháp nào trong số những phương pháp này được cấp bằng sáng chế, được quy định hay được các nghiệp đoàn hóa chất độc quyền.
Tất cả các phương pháp chữa trị ung thư hiệu quả là bất hợp pháp đối với bất kỳ loại quy định nào về quy định khám chữa bệnh tại Hoa Kỳ. Kinh doanh các sản phẩm với mục đích chữa bệnh đại loại như trên là bất hợp pháp, vì không có loại phương pháp nào như thế được “thông qua”. Sẽ chẳng đời nào họ làm thế. Thậm chí nhà sản xuất nào trích dẫn về nó cũng bị xem là bất hợp pháp, dù cho bản thân nhà sản xuất đó được điều hành bởi các nhà sáng lập ngành y chính thống đi chăng nữa. Vì vậy, thông tin, tất cả các mục đích và kiến thức chữa bệnh ung thư thực sự, bị cấm trong thực tế.
Liệu pháp thành công nhất trong điều trị kháng ung thư bắt đầu với chế độ ăn uống, và dinh dưỡng; bởi quy cho cùng, chúng ta thực sự là những gì chúng ta ăn vào. Từ đó, tiết lộ ra những phương pháp khác nhau, nhưng có một nền tảng chung cho những ai nuốt phải rác thải là chẳng còn hy vọng hồi phục sau một cơn chấn động sức khỏe. Tổng quan mà nói thì chế độ ăn uống là quan trọng nhất để xác định nồng độ pH của cơ thể; và kế đó là độ thậm hụt oxy. Nhiễm toan càng được phóng đại hơn nữa do thiếu hụt các khoáng chất quan trọng.
Phần lớn các phương pháp chữa trị ung thư (không dính líu gì đến những phương pháp chữa trị các triệu chứng của bệnh ung thư) bằng cách nào đó mà nó liên quan đến cơ chế tự điều chỉnh độ pH của cơ thể thành môi trường kiềm lý tưởng. Môi trường kiềm làm giàu nồng độ oxy trong máu người. Máu bão hòa oxy thường gây bất lợi trên các tế bào ung thư bị đột biến (quá trình lên men). Khí oxy hiển hiên vô hại đối với các tế bào khỏe mạnh được nuôi dưỡng bằng các hoạt chất chống oxy hóa. Nói lên điều này cũng chỉ để quay trở lại chế độ ăn uống. - Chữa lành bệnh ung thư: Vitamin B17 (laetrile)
“Sau khi trình bày một bài thuyết trình về hiệu quả của vitamin B17 và bệnh ung thư, kính chắn gió xe tôi đã bị bắn rơi thẳng xuống đường về San Francisco. Tối hôm sau, cửa kính sau đuôi xe của tôi bị bắn thủng (cách tiếng nơi tiếng sung đầu tiên nổ ra 300 dặm). Cách sát bảo rằng, ‘có thể ai đó đang cố gắng nói với ông điều gì ‘ ”
- Ernst T. Krebs, người khám phá ra vitamin B17
Vào năm 2007, Khổ hạnh nhân (không phải là loại hạnh nhân ta thường dùng) đã trở thành một bài thuốc tự nhiên thay thế cho vitamin B17 mà các nhà sáng lập các tổ chức y tế tổng hợp. Vào năm 2002, các cửa hàng thực phẩm vì sức khỏe đã phải ngừng bán vitamin B17 dưới hình quả hồ đào, do FDA đã thực hiện những biện pháp cưỡng chế. FDA công khai cấm hạt mơ, và các chiết xuất tự nhiên chứa vitamin B17, bởi vì nó đã thành công trong việc chữa lành bệnh ung thư, được biết qua danh mục “thuốc không được thông qua”. Suốt năm 2002, chính phủ Anh đã sớm thi hành theo, và phương cách thực hiện y chang nhau. Cư dân ở cả hai quốc gia đã bị bắt và buộc tội chỉ vì kinh doanh các quả hồ đào hữu cơ chứa vitamin B17 (laetrile)
“…một báo cáo bác bỏ laetrile (Vitamin B17) được trung ương phát hành vào cuối tháng sáu đã bỏ qua những thí nghiệm cho thấy thảo mộc có thể mang lại hiệu quả trong quá trình điều trị ung thư…” “…có gì đó mờ ám ở đây.”
- New York Times, 24 tháng 7 năm 1997 Sau này, khổ hạnh nhân đã được phát hiện là một nguồn chứa hàm lượng cao loại vitamin này. Vitamin B17 [laetrile] trở nên quý hiếm trong thời đại thực phẩm thiếu dưỡng chất như ngày nay.
Do hiệu quả của nó, các nhà quản lý sẽ không chính thức công nhận vitamin B17 như các loại vitamin hay là vi chất dinh dưỡng khác.
Lý do cho sự bùng nổ sự phổ biến của vitamin B17 và từ đó dẫn đến khổ hạnh nhân, là do trong thực tế vitamin B17 có khả năng bất hoạt các thuộc tính của các tế bào ung thư một cách kỳ diệu và gay cấn như trên màn bạc. Trong khi đó các liệu pháp thay thế thuốc đã đem lại hiệu quả điều trị ung thư và không chất độc hại kể từ năm 1930, loại vitamin mới này thực sự có vẻ ngoài trông giống như một viên đạn ma thuật.Khắp nơi xuất hiện những bài báo cáo tế bào ung thư bị bất hoạt nhờ bệnh nhân đều đặn sử dụng khổ hạnh nhân hằng ngày. Chẳng bao lâu trên thị trường xuất hiện những viên nang chiết xuất từ Khổ hạnh nhân, khiến việc bệnh nhân sử dụng thảo dược không chứa độc tố giá rẻ hàng ngày ảnh hưởng đã ảnh hưởng không tốt cho ngành công nghiệp dược phẩm. Làm hao hụt của họ hàng trăm tỷ dollar.
Ẩn chứa bên trong viên nang vitamin B17 là một lượng nhỏ cyanide trung hòa được giữ lại bằng chính thành phần chính của nó – vitamin B17
Khi vitamin B17 tiếp xúc với các tế bào ung thư, cyanide kéo giảm “tải trọng (kích thước và trọng lượng)” của các tế bào này: đặc biệt là khả năng nhắm xác đích các tế bào của chúng.
Cũng không biết chính xác lý do vì sao loại phản ứng này tồn tại, hay cơ chế nào khiến kích thước và trọng lượng của tế bào ung thư có thể gây chết người.
Vào tháng 9 năm 2007, trong suốt một thời đại hoàng kim của phương pháp chữa trị bằng vitamin B17, FDA đã điều chế hạnh nhân tươi có chứa 2 chủng loại vi khuẩn salmonella-đã từng bùng phát trong 5 năm về trước, và tất cả hạnh nhân các loại cần phải được tiệt trùng, vì lý do đó mà đột nhiên hạnh nhân trở thành một mối đe dọa thảm khốc đến sức khỏe của quốc gia.
Việc tiệt trùng bắt buộc chỉ làm biến đổi hoạt tính của hạnh nhân. Khiến cho hoạt tính của vitamin B17 trong hạnh nhân đắng bị vô hiệu hóa, đó chỉ là kế hoạch đã được FDA sắp xếp. Khổ hạnh nhân là nguồn giàu vitamin B17 nhất, đã chính thức bị cầm lưu hành ở Mỹ vào năm 1995.
Các bác sĩ nào có chỉ định lartrile cho bệnh nhân đều nhận được yêu cầu bị giám sát và bản thân phải viết báo cáo từ FDA.
Nó phải được liệt vào danh sách hàng cấm- để bảo vệ công dân Mỹ.
Nếu bạn thấy bất kỳ loại hạnh nhân nào được dán nhãn “tươi”, sau đó bạn có thể chắc chắn rằng hãng sản xuất đang bịp bợm, và hành động phi đạo đức.
Do sự can thiệp của FDA, hầu hết các loại hạnh nhân ở Mỹ đều được tiệt trùng bằng propylene oxide. Propylen oxide được biết đến như là một loại hoạt chất gây ung thư. Nó nẳm trong đề mục thứ 65 trong danh sách các hóa chất cùng một lúc gây bệnh ung thư và tác hại đến khả năng sinh sản tại California. Trong ảnh: Nhà máy BASF sản xuất propylene oxide.
Phần lớn thành phần mang giá trị dinh dưỡng của hạnh nhân được bán ở Mỹ đã bị vô hiệu hóa, nhưng bên cạnh đó nó còn mang theo thành phần hóa học mang độc tính gây ung thư với khả năng khử trùng tốt. Chất khử trùng này có mặt trong hầu hết các loại hạnh nhân mạo danh được dán nhãn “hữu cơ” và “tươi sống”.
Theo ghi nhận của FDA, khổ hạnh nhân là “độc”, nhưng bằng cách nào đó mà nó đã trở nên nguy hiểm chỉ sau khi công bố những phát hiện vitamin B17 trong khổ hạnh nhân ức chế tăng sản tế bào ung thư.
Loài người đã ăn khổ hạnh nhân trước đó 9000 năm lịch sử mà chẳng có một ca tử vong nào được kiểm chứng, hay bất kỳ những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.
FDA công bố rộng rãi một trường hợp tử vong do khổ hạnh nhân, nhưng khi điều tra thì vỡ lẽ ra là đứa trẻ tử vong bởi hóa trị liệu của bệnh viện. Cả hai bản báo cáo khám nghiệm tử thi và thông cáo trên báo chí đã tự ý bỏ qua các mốc thời gian của liệu pháp hóa trị.
Thông báo khẩn. Khi sử dụng vitamin B17 (laetrile) hoặc bất kỳ những phương pháp điều trị thay thế khác để cứu con mình, bạn cần phải sáng suốt về vấn đề này trong cuộc thảo luận khám định kỳ, bởi vì bác sĩ có thể nói cho con bạn biết những loại dịch vụ bảo vệ nó trong khi bạn thì “bỏ bê các vấn đề y tế” của chúng. Bạn đã được thông báo.
- Chữa lành bệnh ung thư: Phương thức Budwig “Tôi có giải đáp về bệnh ung thư đi chẳng nữa thì các bác sĩ người Mỹ sẽ chẳng bao giờ nghe chúng. Họ đến đây để quan sát phương pháp của tôi và bị gây ấn tượng. Kế đó là họ muốn tôi thực hiện một thỏa thuận đặc biệt để họ có thể mang phương pháp đó về nhà và kiếm thật nhiều tiền. Tôi đã không làm thế, và tôi đã bị tẩy chay ở mọi quốc gia.”
- Tiến sĩ, bác sĩ y khoa Johanna Budwig. Cuộc gặp gỡ với tiến sĩ- bác sĩ y khoa
Cô rời bỏ thế giới này vào năm 2003, ở cái độ tuổi 95 chín muồi, nhưng dung mạo của cô trông như mới vừa 70.
Cô được để cử 7 lần cho giải Nobel Y học.
Budwig đã chữa lành bệnh ung thư: không phải là điều trị thông thường. Nhưng đã chữa lành cho những bệnh nhân mắc bệnh nan y; thậm chí ngay cả những bệnh nhân này cũng đã tuyên bố rằng họ đầu hàng số phận, rằng nó “không thể chữa được”, và chỉ còn có nước ngồi chờ chết. Đây không phải là chuyện hiếm gặp ở những người mắc bệnh ung thư.
Cô chữa lành mọi ca ung thư được thải đến chỗ cô, và cô đã nhanh chóng tiến hành chữa trị, đơn giản, rẻ tiền, và vĩnh viễn không sử dụng những thành phần gây độc mà không có bất kỳ tác dụng phụ nào.
Y học của cô thực sự đã làm cho bệnh nhân của mình mạnh mẽ hơn, và tỉ lệ chữa lành bệnh là hơn 90%, bao gồm cả ca ung thư “thời kỳ cuối” tồi tệ nhất. Bệnh nhân của cô ấy trải nghiệm mà không bị tác dụng phụ.
Khía cạnh đáng kinh ngạc nhất vẫn còn bị đàn áp. Vũ khí áp chế căn bệnh ung thư hạng nặng của tiến sĩ Budwig là phó-mát tươi (quark chesse) và dầu hạt lanh (omega 3) rất phổ biến.
Những thứ tưởng chừng như tầm thường này kết hợp với chế độ ăn Budwig kéo oxy vào tận sâu các mô, trong khi đồng thời bảo vệ khỏi bị thiệt hại bởi quá trình oxy hóa.
Bất kỳ thực phẩm nào chứa nhiều thành phần lưu huỳnh có thể được dùng thay thế bằng phó-mát tươi (quark chesse), cũng như sữa chua (không đường) lên men tự nhiên, phó- mát tươi lên men bằng sữa chua (cottage chesse).
Công thức đơn giảm đáng ngạc nhiên của Budwig là omega-3 công với sự kết hợp giữa lưu huỳnh có trong protein với oxy, đã được sử dụng như là một trong những phương cách đơn giản nhất trong chế độ ăn kháng ung thư. Phương thức mà chế độ ăn uống của cô nhấn mạnh là chất béo có giá trị dinh dưỡng.
Tiến sĩ Johanna Budwig cũng nhận ra như tiến sĩ Otto Warburg, bí mật chi phối căn bệnh ung thư là hơi thở đã được Thượng Đế ban- khí oxy.
Xét về mặt kỹ thuật thì nó không hề đơn giản, nhưng bản chất của nó gần như rất đơn giản.
Thủ pháp thực sự là bơm ngược khí oxy sâu vào trong các mô, và để cho các tế bào được tái tạo lại bằng cách cho nó ‘ăn’ thêm một lần nữa. Tiến sĩ Budwig đã tìm ra một cách thông minh, đơn giản và nhanh chóng hơn những phương pháp khác để cải thiện quá trình chuyển hóa oxy hóa ở bệnh nhân của cô ấy.
Tiến sĩ Budwig phát hiện ra rằng ngay cả chế độ ăn được gọi là khỏe mạnh nhất (không chất béo) cũng là một phần rất lớn trong các vấn đề gây bệnh ung thư.
Phương pháp của cô ấy giúp loại bỏ sự tổn hại của chất béo tổng hợp và các thực phẩm trong chế độ ăn làm nghèo nàn hàm lượng oxy của tế bào (các bác sĩ cũng thường khuyến cáo), và thay thế bằng các thực phẩm chữa lành bệnh tự nhiên, và bảo vệ sự sống bằng các acid béo thiết yếu.
Đi cùng chế độ ăn uống, phương thức Budwig cũng nhấn mãnh những lợi ích từ ánh sáng mặt trời, nguồn vitamin D3 kháng ung thư tự nhiên, giảm thiểu căng thẳng, và điều hòa bằng cảm xúc.
“Nếu không có các acid béo, các enzyme cho hoạt động hô hấp bị bất hoạt và người ta sẽ chết ngạt, ngay cả khi chỗ của họ ở có một bầu không khí giàu oxy đi chăng nữa. Một thiếu sót trong các bài báo cáo được đánh giá cao là các acid béo không bão hòa làm suy yếu nhiều chức năng cơ quan quan trọng. Trước hết, nó làm giảm hàm lượng oxy cố định của một người. Chúng ta không thể tồn tại mà không có các acid béo, cũng như chúng ta không thể sống sót mà không có thực phẩm. Điều này đã được minh chứng từ rất lâu."

* - Tiến sĩ Johanna Budwig Phương thức Budwig: Ghi chú sau cùng

Phương thức Budwig bao gồm 2 giai đoạn. Một trong 2 giai đoạn này là phương thuốc tự nhiên được hòa trộn giữa những protein có thành phần giàu lưu huỳnh và dầu hạt lanh cung cấp omega 3.
Dầu cá (chứa omega 3) sẽ không được khuyên dung để tránh những rủi ro bị ô nhiễm, và cơ thể cũng sẽ tổng hợp đủ lượng omega 3 cần thiết từ dầu hạt lanh để cân bằng chính xác đương lượng từ omega 3 đến omega 6.
Giai đoạn còn lại của phương thức Budwig là chế độ ăn uống đặc biệt nhấn mạnh các thự phẩm lành mạnh và các chất béo lành mạnh. Kết quả ấn tượng xảy ra trong vòng 90 ngày. Bệnh nhân được khuyện tiếp tục với chế độ ăn cho 6 tháng, bất kể có những biểu hiện thiếu hụt đi chăng nữa.
Sức mạnh của ánh sáng mặt trời (vitamin D3) trong cuộc chiến kháng ung thư chẳng hề được phóng đại tí nào. 

* Chữa lành ung thư: phương pháp Hoxsey

Có một số quy tắc không hế thay đổi. Như việc thuế má và cái chết là thân hữu của chính phủ vậy.
Phương pháp Hoxsey kháng ung thư là liệu pháp thiên nhiên được bác sĩ Harry Hoxsey tạo ra.
Nó cũng như tất cả các phương pháp điều trị thay thế khác, được sử dụng cho tất cả các bệnh nhân dù cho họ có khả năng chi trả hay không.
Trong lịch sử của “thủ đoạn”, ông được cho là bác sĩ bị bắt giữ nhiều hơn bình thường.
Các thành viên trong bồi thẩm đoàn đã tuyên bố tách biệt thử nghiệm của ông khỏi những bằng chứng y tế bị gian lận. dựa trên bằng chứng áp đảo rằng nền tảng của cả hai phương pháp chữa trị đều an toàn và có hiệu quả cao trong điều trị ung thư.
Không có lấy một ai trong số hơn 10.000 bệnh nhân của Hoxsey sẵn sàng đứng ra theo yêu cầu làm chứng chống lại ông cả.
Một người thụ lý và thi hành án của thành phố Dallas, người đã từng thi hành bắt giữ Hoxsey hơm cả tram lần, cuối cùng cũng phải đến chỗ của Hoxsey để xin chữa trị cho anh trai của mình.
Người thu lý và thi hành án không bào giờ làm phiền Hoxsey lần nào nữa.
AMA từ chối kiểm tra quá trình chữa bệnh của Hoxsey, hay là đánh giá độ an toàn và hiệu quả của nó, bởi vì họ e rằng làm thế chẳng khác nào “hợp pháp hóa” công việc của Hoxsey.
Khoa học thực thụ thì không ngại việc điều tra
AMA chọn lựa mua lại công thức của Hoxsey hơn. Hoxsey đã ra điều kiện là không bao giờ được từ chối bệnh nhân nào, bất kể là họ có khả năng chi trả hay không. AMA đã từ chối điều khoản đó. Sau này, họ bắt đầu những chiến dịch công kích Hoxsey bằng nhiều thủ đoạn trên truyền thông. Thậm chí cón cố gắng mưu sát ông ấy.
Cuối cùng, việc chữa trị bằng phương pháp Hoxsey đã bị cấm ở Mỹ. Những học trò của Hoxsey đã chuyển đến Mexico vào năm 1963 để không phải bị liên lụy.
Vô số người Mỹ mắc bệnh ung thư vào thời kỳ cuối phải thực hiện một chuyến lữ hành đến biên giới Mexico hằng ngày để có quyền tự do sức khỏe và trị liệu Hoxsey.
Tỷ lệ trung bình mà Hoxsey chữa khỏi vào khoảng 80%, nhưng hiển nhiên các trường y không đề cập đến trong giảng dạy chính quy vì nó đã bị FDA loại bỏ. 

- Phương pháp Hoxsey: ghi chú sau cùng

Phương pháp Hoxsey được sử dụng cho những hoạt động cai nghiện, và xây dựng lại hệ thống miễn dịch giống như việc nạp lại đầy đủ năng lượng. Phương pháp đã được kết hợp với một chế độ ăn uống đặc biệt.
Trớ trêu thay, phương pháp Hoxsey lại không có tác dụng với chính Hoxsey, cho nên cuối cùng ông phải quay trở về liệu pháp y học chính thống cho căn bệnh ung thư của mình. Ông đã chết trong vòng 7 năm. Ông tử vong vì nhiễm độc gan do liệu pháp hóa trị, nhưng mỉa mai thay, cái chết cuối đời ông được chẩn đoán đã đến từ “ung thư”.

* Công thức được Hoxsey sử dụng:

Kali Iodid – 150g. Cam thảo, gỗ trăn, cây hắc mai, cỏ ba lá đỏ – 20mg. Rễ cây ngưu bang, rễ sồi, hoàng liên gai và thương lục – 10mg. Cascara và tần bì gai – 5mg.
Những loại thực phẩm cần kiêng: cà chua, dấm, thịt lợn, rượu, muối bột, đường tinh luyện và bột mì trắng –

* Chữa lành bệnh ung thư: Vitamin C

Trong những ngày đầu chỉnh lý những phương pháp điều trị, Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã dẫn dầu trong một chiến dịch chống đối Vitamin C dài hơi. Những chỉnh lý bị chống đối là những chỉnh lý cho rằng vitamin C tăng cường hệ miễn dịch và dẫn đến rất ít bệnh lý.
Chiến dịch bôi nhọ và chống chỉnh lý trị liệu bằng các vitamin đã được hưởng ứng bởi AMA.
Bằng những quy định của FDA, vitamin C vẫn “không được thông qua” (bị cấm) sử dụng cho bệnh nhân ung thư, cho đến khi nào nó có “ những mối quan tâm về an toàn”.
Albert Szent-Gyorgyi đã khám phá ra Vitamin C và chiến thắng giải Nobel vào năm 1937.
Và sau đó ông cho biết rằng Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã từng nhiều lần nỗ lực đóng cửa viện nghiên cứu của ông.
Nhà nghiên cứu hóa sinh Linus Pauling từng 2 lần chiến thắng giải Nobel, là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu mối liên hệ giữa Vitamin C và bệnh ung thư.
Linus Pauling khuyến cáo bệnh nhân ung thư thời kỳ cuối sử dụng 10 gram Vitamin C mỗi ngày, con số đó thấp hơn con số mà FDA ‘khuyến cáo bổ sung hàng ngày’ (RDA-Recommended Daily Allowance) 220 lần.
Tiến sĩ Ewan Cameron (bên trái), Cô Eva Helen Pauling (chính giữa), Linus Pauling (bên phải)
Linus Pauling đã từng làm việc với bác sĩ người Scotland, tiến sĩ Ewan Cameron, người sẽ luôn sẵn sang kiểm tra lý thuyết của ông dựa trên tiền đề là nếu vitamin C đã không chữa trị tốt, thì ít nhất là không gây hại.
Từ nằm 1971 đến 1979, tiến sĩ Cameron đã thực hiện điều trị cho 750 bệnh nhân. Hầu hết các bệnh nhân mắc “bệnh nan y” đều bị y học chính thống gạt sang một bên.
Họ ghi nhận rằng tất cả các bệnh nhân đã sống lâu hơn so với các dự đoán, cơn đau được làm dịu bớt, và một số còn hoàn toàn phục hồi chỉ bằng trị liệu với vitamin C. Một nghiên cứu khác tại một bệnh viện duy nhất, khám phá ra rằng những bệnh nhân được điều trị với acid ascorbic (vitamin C) có tuổi thọ trung bình tăng gấp 4 lần, trong khi đó phương pháp điều trị chính thống cũng ghi nhận cùng một kết quả như thế.
Các nghiên cứu của Pailing và Cameron được đăng trên các tạp chí y khoa ngay lập tức bị kiểm duyệt; cho nên hai người đã viết quyển sách ‘Ung thư và vitamin C’.
Các cộng sự truyền thông đại chúng đã dung quyền lực của mình để chặn đứng việc cho xuất bản những khám phá về dinh dưỡng và cách thức bổ sung. Những khám phá này ảnh hưởng đế quá trình chăm sóc bệnh và triệu chứng trong công tác quản lý công nghiệp.
Lấy một ví dụ, những hành động quen thuộc của phòng khám Mayo…
Sau tất cả mọi chuyện, chúng ta đều biết làm cách nào mà Vitamin C trở nên nguy hiểm.

* Vitamin C trị liệu pháp: Ghi chú sau cùng

Những nhà Vitamin C tiên phong, như Linus Pauling, đã làm thuyên giảm bệnh ung thư của mình trong suốt 20 năm chỉ bằng vitamin C.
Trớ trêu thay, Khi bắt đầu sử dụng xạ trị chính thống vào trước năm ông 90 tuổi. Nó đã giết ông vào năm 1994, ở cái tuổi 93.

* Chữa lành bệnh ung thư: “Trà” Essiac

Rene Caisse là một y tá người Canada đã khám phá ra một công thức thảo dược vào năm 1992, mà dường như nó chứa hoạt tính kháng ung thư rất mạnh mẽ.
Công thức cô đưa ra là một phương thuốc cổ đại từ những người da đỏ bản địa, họ là những cư dân trao cho cô phương thức này hoàn toàn miễn phí. Cô đã đặt tên cho phương thuốc là Essiec (es-ee-ak), là tên của cô ấy được viết ngược lại.
“Trà” thảo mộc Essiac được bào chế từ rễ Goro, chút chít Rumex acetosa, Bột vỏ cây hồng du (Ulmus rubra), và đại hoàng Thổ Nhĩ Kỳ.
Cuộc chiến với các nhà sáng lập y tế ngay lập tức bắt đầu diễn ra tại phòng khám mà y tá Caisee mở.
Bộ Y tế và phúc lợi quốc gia tại Ottawa đã cử người bắt giữ cô vì hành nghề mà không có giấy phép, nhưng trong trường hợp này các bác sĩ cũng từ chối hợp tác để bắt giữ cô.
Uy tín mà các bác sĩ có được cũng là nhờ việc cô làm mang lại (gồm có tiến sĩ – bác sĩ y khoa Charles Brusch của đại học Cambrige, Massachusetts) cũng như cách mà cô mang lại đam mê cho công việc của mình.
Những người tham gia vào các nỗ lực nhằm bắt giữ Rene Caisse đã cho bố trí một nghiên cứu thử nghiệm Essiac trên chuột, để công khai hạ thấp uy tín công việc của cô ấy.
Những con chuột được điều trị bằng Essiac sống lâu hơn với liệu pháp Essiac hơn hẳn bất kỳ nghiên cứu điều trị nào của họ trước đây.
Năm 1938, Rene Caisse đã đi trước cơ quan lập pháp y tế Canada, nằm mục đích nhận được quyền hợp pháp cho Essiac (được thông qua). Cô đã để bị vuột mất 3 phiếu, sau khi phần lớn trình bày của cô đã bị tùy tiện bác bỏ.
Các nhà sang lập y tế Canada tuyên bố rằng tất cả các ca bệnh được chữa lành đã bị chẩn đoán sai, đó chỉ là những sự cố trùng hợp ngẫu nhiên.
Sau khi mắc chứng suy nhược thần kinh, Caisse không thể tiếp tục để mình bị ray rứt vì những cây thảo dược của mình, và đã giúp mọi người tại tầng hầm của riêng mình với rủi ro bị bắt có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Cùng lúc đó, những bệnh nhân người Canada đã đâm đơn kiện các nhà sáng lập y tế, đòi hỏi nhân quyền được điều trị phương pháp mà họ đã lựa chọn cho đến khi cô qua đời ở tuổi 90 vào năm 1978.

*“Trà” Essiac: Ghi chú sau cùng

“Trà” Essiac không hẳn là loại trà thường thấy. Đây là một hỗn hợp thảo mộc đã được sấy, phơi khô và đun trong nước sôi. Sau khi đun sôi, hỗn hợp công thức cần được để yên ít nhất 12 tiếng đồng hồ, mà không phải gạn hay lọc bỏ bất kỳ cái gì trong thành phần. Sau đó, hỗn hợp được lọc và làm ấm để dùng ngay.
Tránh sử dụng nhựa hay là nhôm để chứa đựng hỗn hợp công thức này. Nếu nó nổi váng màu xanh lá, hãy đem bỏ hỗn hợp này đi. Tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm suy yếu công năng chữa bệnh của nó. Không làm lạnh hỗn hợp.
Liệu pháp Essiac không có chế độ ăn uống “chính thức”, nhưng nhà sản xuất khuyến cáo sử dụng chế độ ăn uống của Budwig. Chế độ ăn Budwiq được kéo dài xuyên suốt bộ phim này, nhưng bạn có thể tìm thêm thông tin tại HealthWyze.orrg. Các phương thức Budwig và Essiac an toàn khi sử dụng chung với nhau, và tốt hơn là nên như thế.

*Chữa lành bệnh ung thư: liệu pháp Gerson

Tiến sĩ- bác sĩ Y khoa, được sinh ra tại Wongrowitz, Đức, vào năm 1881. Ông đã phát triển một chế độ ăn uống có thể ngừa đau đầu.
Chế độ ăn uống này vô tình đã chữa khỏi một trong những bệnh nhân của ông đang bị lao màng phổi. Công tiếp tục nghiên cứu dinh dưỡng trong vai trò là một liệu pháp y tế, và ông đã chữa lành cho nhiều bệnh nhân lao màng phổi bằng cách chỉ sử dụng một loại thực phẩm duy nhất.
Một trong những thử nghiệm tại bệnh viện đại học Munich, 446 trong số 450 bệnh nhân bị lao màng phổi (tức chiếm 99,1%) được điều trị bằng phương pháp Gerson đã hồi phục hoàn toàn. Ông ấy nhanh chóng cùng với người bạn của mình là Bác sĩ Albert Schweitzer chiến thắng giải Nobel, bằng việc chữa lành bệnh lao phổi cho vợ của Albert. Tất cả những liệu pháp điều trị chính thống đã bị đánh bại.
Tiến sĩ Gerson tị nạn từ Đức sang Mỹ vào năm 1936, khi Đức Quốc Xã bắt đầu phát lệnh bắt giữ người Do Thái.
Vào năm 1938, Gerson đã được cấp giấy phép hành nghề tại Nữu Ước.
Ông đã chữa lành hang trăm ca bệnh ung thư. Hầu hết những ca bệnh đã được y học chính thống từ chối trong vô vọng (ví dụ như “những ca đã vào giai đoạn cuối”)
Năm 1958, Gerson cho xuất bản ‘Liệu pháp kháng ung thư: đúc kết từ 50 ca bệnh”, quyển sách chứa những chi tiết về lý thuyết, phương pháp điều trị, và kết quả của ông.
Phác đồ điều trị của Gerson thì ít tích cực và khó khăn hơn so với những liệu pháp kháng ung thư thay thế thành công nhất, rất dễ hiểu vì phần lớn thời gian điều trị chỉ sử dụng liệu pháp dinh dưỡng. Thế nên rất khó xác định các thống kê trung bình về những thành công của nó trong việc điều trị bệnh ung thư, nhưng hầu hết bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối có tỷ lệ phục hồi hơn 50%.

*Liệu pháp Gerson: Ghi chú sau cùng

Thực đơn cho chế độ ăn uống này bao gồm các loại cây ăn trái và rau trồng hữu cơ, nước ép nguyên chất (8 ounces ~ 0.24 liters mỗi giờ, vị chi là 13 lần mỗi ngày), ngày 3 bữa chay, một hỗn hợp gồm Kali-Vitamin B12-và Vitamin C.
Lượng hỗn hợp Kali-Vitamin B12-và Vitamin C được sử dụng phụ thuộc vào bệnh nhân, phân loại bệnh ung thư, và cách mà bệnh lý ung thư tiến triển. Các tỷ lệ được lý giải trong quyển sách, “Chữa lành bằng cách của Gerson”, được con gái của bác sĩ Gerson- Charlotte Gerson viết lại. Có thể liên lạc với viện Gerson để có thêm thông tin (gerson.org)
Đối với trường hợp tồi tệ nhất (giai đoạn cuối), phải sử dụng cà phê và hoa cúc đổ ống, chúng có một tác động đáng ngạc nhiên là làm trẻ hóa bệnh nhân ung thư.

* Chữa lành ung thư: liệu pháp Oxy/ Ozone

Kể từ khi tiến sĩ Otto Warburg khám phá ra mối tương quan giữa các tế bào thiếu hụt oxy và nguyên nhân gây bệnh ung thư, các phương pháp để gia tăng hàm lượng oxy đã được nghiên cứu rỗng khắp.
Liệu pháp Ozone hiện nay được xem là một phương pháp điều trị y tế chính thống ở Đức dành cho một loạt ca bệnh như đột quỵ, ung thư, eczema, hoại tử và herpes.
Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ, thì ozone vẫn chưa được hiệp hội ung thư Hoa Kỳ của Rockefeller kiểm tra, và do đó không được sử dụng trong việc hỗ trợ các bệnh nhân ung thư.
Họ đã thống nhất quan điểm trên một cách chính thức vào năm 1993, và đã không thay đổi nó, mặc dù nghiên cứu đã chứng minh tính hiệu quả.

* Liệu pháp Oxy/Ozne: Ghi chú sau cùng

Bệnh nhân ung thư vào thời kỳ cuối có thể được thực tập sinh truyền nhỏ giọt Hydro Peroxide đường tĩnh mạch cách quãng hay liên tục.
Những ca bệnh nhẹ ít nghiêm trọng hơn có thể tiêu thụ một lượng nhỏ tầm 3% lượng Hydro Peroxide có trong thực phẩm nhiều lần trong ngày kết hợp với những kế hoạch điều trị thay thế khác.
Máy tạo Ozone cũng có thể hỗ trợ tăng nồng độc oxy đến phổi.
–“Thượng Đế đã ban dược phẩm đến cho nhân loại, và điều đó có nghĩa là sự khôn ngoan của Ngài sẽ không khinh rẻ chúng.”
Kinh Thánh, Sách Huấn Ca 38:4
“…và hoa trái sẽ trở nên lương thực, và cành lá của chúng là để chữa lành bệnh tật.”
Kinh Thánh, Ezekiel 47: 12